Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng trong những kho lưu trữ vẫn còn đó biết bao tài liệu, thư từ và bản thảo viết tay lặng lẽ nằm im trong các hồ sơ về một thời kỳ lịch sử đầy khốc liệt của dân tộc. Mỗi trang tài liệu không chỉ phản ánh một sự kiện lịch sử mà còn lưu giữ số phận của những con người đã cống hiến cả tuổi xuân, thậm chí cả cuộc đời cho độc lập, tự do của Tổ quốc.

Chung tay cùng “Chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV đã triển khai rà soát, thống kê, đối chiếu hàng ngàn hồ sơ lưu trữ đang bảo quản tại Trung tâm; thống kê thông tin trong từng trang tài liệu, góp nhặt từng mảnh ghép ký ức của lịch sử. Trong quá trình đó, nhiều tài liệu quý liên quan đến các liệt sĩ đã được phát hiện, bổ sung nguồn thông tin phục vụ công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Và giữa hàng vạn trang giấy nhuốm màu thời gian, chúng tôi đã không khỏi xúc động khi tìm thấy những tài liệu vô giá về danh tính và sự hy sinh của các liệt sĩ, trong đó không thể không nhắc tới những ghi chép quý báu về liệt sĩ Võ Xuân Vinh – một người con ưu tú của miền đất Phú Yên.

Liệt sĩ Võ Xuân Vinh – Người cán bộ cách mạng kiên trung

Theo tài liệu lưu trữ, liệt sĩ Võ Xuân Vinh còn được biết đến với bí danh là Ba Phát, 35 tuổi, sinh ra tại thôn Mỹ Thuận, xã Hoà Đồng, huyện Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên (nay thuộc tỉnh Đắk Lắk), trong một gia đình phú nông. Thân phụ ông là cụ Võ Ninh và thân mẫu là bà Lê Thị Nhơn. Trước khi dấn thân vào con đường cách mạng, liệt sĩ Võ Xuân Vinh đã hoàn thành chương trình sơ học yếu lược.

Sau khi Hiệp định Genève được ký kết, theo điều khoản thi hành của Hiệp định, ta thực hiện tập kết ra Bắc. Ngoài lực lượng quân đội và công an, tỉnh Phú Yên cũng đã đưa cán bộ dân chính đảng đi tập kết. Thực hiện chủ trương của Đảng, Tỉnh uỷ Phú Yên phân công một số đồng chí ở lại tiếp tục hoạt động, trong đó có đồng chí Võ Xuân Vinh.

Để tránh sự theo dõi của địch, Tỉnh uỷ Phú Yên dời vào Đá Mài (vùng núi phía Tây huyện Đồng Xuân) để hoạt động gồm có các đồng chí Lê Đài – Bí thư Tỉnh uỷ, đồng chí Võ Mậu – Thư ký và đồng chí Võ Xuân Vinh – Chánh Văn phòng Tỉnh uỷ. Nhiệm vụ Tỉnh uỷ lúc này là phát triển cơ sở, tổ chức các chi bộ Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh đòi dân sinh dân chủ, đòi hiệp thương tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước.

Sự hy sinh của đồng chí Lê Đài vào năm 1956 cùng việc đồng chí Nguyễn Thế Vịnh – Tỉnh ủy viên, bị địch bắt đã đặt phong trào cách mạng của tỉnh trước nhiều thử thách. Trong hoàn cảnh đó, các đồng chí Tỉnh ủy viên Bùi Tân, Võ Xuân Vinh, Trương Đình Giao… đã kế tục trọng trách chèo lái phong trào cách mạng. Trong đó, đồng chí Võ Xuân Vinh cùng với đồng chí Bùi Tân phụ trách toàn diện trên địa bàn tỉnh và trực tiếp chỉ đạo tại khu vực Tuy Hoà. Trong năm 1957, nhiều cơ sở cách mạng của Đảng tại tỉnh Phú Yên bị địch phát hiện, nhiều chiến sỹ cách mạng bị bắt. Tuy nhiên dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, phong trào cách mạng tại Phú Yên đã vượt qua những khó khăn, tổn thất nặng nề.

 Trong quá trình hoạt động, do bị địch theo dõi ráo riết, đồng chí Võ Xuân Vinh đã phải di chuyển từ mật khu này đến mật khu khác để hoạt động. Điểm dừng chân cuối cùng của đồng chí là suối Hố Ngựa – một vùng suối sâu hoang vu, hiểm trở nằm lọt thỏm giữa các cụm núi rậm rạp giáp ranh giữa các xã An Thọ thuộc huyện Tuy An, Hoà Quang, Hoà Kiến thuộc huyện Tuy Hoà và Sơn Long thuộc huyện Sơn Hoà. Nơi đây có nhiều hang và tảng đá gồ ghề, nằm phía dưới các triền núi, từ cao trông xuống ước khoảng 400 thước (khoảng 180 mét). Chính trong điều kiện thiếu thốn, gian khổ tột cùng ấy, đồng chí vẫn kiên cường bám trụ, ra sức hoạt động để giữ vững ngọn lửa phong trào.

Hình ảnh mật khu Hố Ngựa – nơi đồng chí Võ Xuân Vinh hy sinh

 Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV, Phông Toà Đại biểu Chính phủ tại Trung nguyên Trung phần, hồ sơ 2244

Hình ảnh mật khu Hố Ngựa – nơi hoạt động của các chiến sĩ

 Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV, Phông Toà Đại biểu Chính phủ tại Trung nguyên Trung phần, hồ sơ 2244

Theo tài liệu lưu trữ, vào khoảng 19 giờ ngày 06/3/1958, địch tổ chức một toán quân gồm khoảng 26 người chia làm 3 tổ phục kích xung quanh mật khu Hố Ngựa (CQ.035.545) thuộc huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên – nơi đồng chí Võ Xuân Vinh cùng một số đồng chí khác đang trú ẩn để hoạt động. Trong thế trận hoàn toàn chênh lệch (khoảng 5 đồng chí), đồng chí Võ Xuân Vinh vẫn kiên cường bám trụ, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng và hy sinh vào sáng ngày 07/3/1958.

Sự hy sinh của đồng chí Võ Xuân Vinh là một tổn thất lớn đối với phong trào cách mạng Phú Yên, đồng thời là minh chứng sáng ngời cho tinh thần kiên trung, bất khuất của người chiến sĩ cách mạng, sẵn sàng hiến dâng cuộc đời vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Bài thơ “Mình ơi hỡi” – ký ức và tiếng lòng tha thiết

 Bài thơ Mình ơi hỡi

Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV, Phông Toà Đại biểu Chính phủ tại Trung nguyên Trung phần, hồ sơ 2244

Giữa những năm tháng bị truy lùng gắt gao, đối diện thường trực với cái chết, điều còn đọng lại trong tâm hồn người cán bộ cách mạng không chỉ là nhiệm vụ với Tổ quốc mà còn là tình cảm dành cho gia đình, cho người vợ nơi hậu phương. Sau khi anh dũng hy sinh, địch thu giữ một số tài liệu quan trọng đồng chí mang theo, trong đó có bài thơ “Mình ơi hỡi” do chính đồng chí cảm tác khi hay tin người vợ nơi quê nhà quyên sinh để giữ trọn lòng thủy chung son sắt với chồng.

Bài thơ “Mình ơi hỡi” của đồng chí Võ Xuân Vinh là dòng tâm tình tha thiết ông gửi đến người vợ ở quê nhà đã ra đi. Bài thơ mở đầu bằng một sự thật đau lòng, giội thẳng vào tâm khảm người cán bộ cách mạng.

Tin đưa đến như bên tai sét đánh

Biết rõ em đã tự vẫn chết rồi!!!”.

Không có sự chuẩn bị hay những lời lẽ cầu kỳ, chỉ một câu thơ đã đủ gợi lên sự đau đớn của người chồng khi hay tin người bạn đời đã vĩnh viễn ra đi. Từ khoảnh khắc ấy, mạch cảm xúc của bài thơ không hướng về những trận đánh hay chiến công, mà lần giở từng ký ức của một cuộc đời chung rất bình dị.

Trong ký ức của đồng chí Võ Xuân Vinh, người vợ hiện lên trước hết là một người phụ nữ của gia đình. Đó là người cùng ông đi qua những năm tháng nghèo khó nhưng đầm ấm, cùng nuôi dưỡng niềm vui khi đứa con đầu lòng chào đời và cùng ấp ủ những ước mơ giản dị về tương lai. Những hình ảnh đời thường ấy khiến người đọc nhận ra rằng, trước khi trở thành những người cán bộ cách mạng, họ cũng là một đôi vợ chồng với ước muốn được sống bình yên như bao gia đình khác.

Mười năm chẳng qua bao ngày sóng gió,

Dẫu đói nghèo chồng vợ vẫn vẹn tình.

Ta yên vui chung sống lúc xuân xanh,

Càng khăn khít khi mình sinh con trẻ.

Nhìn con thơ đẹp lòng ba mẹ,

Vuốt tóc con, em nói với anh rằng:

“Bé Mận nầy nọ rất giống anh,

Đời của Mận rất nhiều hy vọng”.

Rồi nhìn anh với tất cả tình nồng thắm,

Như nói lên hy vọng của lòng em.

Thế nhưng, giữa lúc đất nước chưa yên bóng giặc, gác lại hạnh phúc riêng, người cán bộ ấy lên đường tham gia hoạt động cách mạng. Ở hậu phương, người vợ lặng lẽ chăm sóc gia đình, một mình phụng dưỡng mẹ già và nuôi dạy con thơ.

Rồi mùa Đông năm ấy,

Em bồng con tiễn bước anh đi.

Siết chặt tay lệ ứa quanh mi,

Nhìn con căn dặn những lời tha thiết:

“Mong anh trung nước, nghĩa nhà,

Ruộng đồng con trẻ mẹ già có em”.

Sáu năm ròng bao phen gian khổ,

Tránh đạn bom lùng bố giặc Tây.

Nhưng không bê việc cấy cày,

Con thơ nuôi dạy từng ngày chăm lo.

Giặc phá đạp phá mùa lúa cháy.

Thiếu gạo cơm lo chạy sắn rau,

Cảnh nghèo túng trước thiếu sau,

Đói lòng nhưng chẳng hề đau nỗi lòng.

Giây phút đoàn viên ngọt ngào sau bao năm dài biền biệt ngắn ngủi chẳng khác nào một giấc mơ. Niềm vui hội ngộ chưa trọn vẹn đã vội nhường chỗ cho mệnh lệnh cách mạng. Dù lưu luyến và đau buồn, cả hai đều đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên hạnh phúc riêng, động viên nhau kiên cường chiến đấu vì ngày đất nước thống nhất.

Rồi một chiều thu 54

Tin mừng vui đình chiến Đông Dương

Anh về chung tiệc đoàn viên

Bế con có mẹ, cả em sum vầy,

Nhưng rồi anh phải ra đi,

Em buồn vui lẫn lộn quanh mi lệ trào,

Nắm tay em nói nghẹn ngào

Anh đi mạnh khoẻ, em về đấu tranh;

Cho mau thống nhất hoà bình.

Sẽ càng nồng thắm mối tình đôi ta

Bên bờ dòng nước sông Ba

Em thề giữ vẹn tình ta suốt đời,

Chiếc đò người đã đông rồi

Đưa anh sang bến em ngồi trông theo

Cùng anh nhìn mãi đến chiều

Mặt trời im lặng còn kêu dặn dò

Anh đi mạnh khoẻ đừng lo

Em dầu đến thác không cho dơ mình

Và khi nghe tin người chồng hy sinh, người vợ trẻ đã nén đau thương, không quản ngại gian khổ, hiểm nguy, bế con vượt giới tuyến vào Bình Định tìm chồng. Hành trình ấy chỉ được nhắc qua vài câu thơ, nhưng đủ cho thấy sự yêu thương, lo lắng của người vợ; sự kiên định trước những trận đòn roi, tra tấn dã man của kẻ thù mà không một lần khuất phục. Trước mọi sự dụ dỗ, đe dọa, bà vẫn giữ trọn lời thề son sắt.

Ba năm sống trong màu u tối

Chịu đánh tra 4 lượt cực hình

Khổ đau vẫn chịu riêng mình

Không cho động đến mối tình đôi ta.

Trọn nghĩa nước, vẹn đạo nhà

Quyết không để địch xoá nhoà lòng son

Bọn Mỹ D. vu oan cố hại

Đánh tra em buộc phải bắt anh

Nếu không, phải dứt mối tình

Bỏ chồng lấy bọn lưu manh làm chồng

Một không, ba, bảy cũng không

Đời em chỉ có một chồng mà thôi

 Và giữa lằn ranh sinh tử, bà đã chọn cách phản kháng đanh thép nhất: quyên sinh để giữ trọn lòng thủy chung. Đó không phải là hành động bộc phát của một người tuyệt vọng, mà là lựa chọn cuối cùng của một con người đã dồn toàn bộ lòng tin vào lý tưởng cách mạng mà mình và chồng cùng theo đuổi.

Gửi con để lại anh thời chăm lo

Mận là hy vọng của đôi ta

Anh ơi em chết ghềnh Ba…..

Những vần thơ trong “Mình ơi hỡi” vượt lên khỏi nỗi đau cá nhân để khắc họa trọn vẹn hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời chiến. Họ lặng lẽ làm hậu phương vững chãi: tiễn chồng lên đường, gánh gác gia đình, nuôi dạy con thơ và phụng dưỡng mẹ già giữa bom rơi đạn nổ. Trước tột cùng gian khổ lẫn sự truy bức tàn bạo từ kẻ thù, họ vẫn một lòng sắt son với gia đình, trọn vẹn với cách mạng, hóa sự hy sinh cá nhân thành một phần trường tồn của dân tộc.”

Giá trị của hòa bình từ những mảnh ghép quá khứ

Những trang tài liệu lưu giữ dấu ấn của một thời đã qua đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV chính là minh chứng sống động cho tinh thần kiên trung, bất khuất của liệt sĩ Võ Xuân Vinh, cũng là niềm tự hào của quê hương Phú Yên. Việc nỗ lực tìm kiếm, giải mã từng dòng tài liệu lưu trữ hôm nay chính là lời tri ân sâu sắc nhất của thế hệ hôm nay gửi tới những người anh hùng đã ngã xuống vì độc lập, tự do của Tổ quốc và sự hy sinh thầm lặng nhưng vĩ đại của những người phụ nữ Việt Nam.

Tài liệu tham khảo

1. Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV, Phông Toà Đại biểu Chính phủ tại Trung Nguyên Trung phần, hồ sơ 1745, 2244

2. Lịch sử Phú Yên kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975), trang 38, 39

 

Bùi Nga – Nguyễn Phượng