Ra đời trong những ngày đầu của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Sắc lệnh số 51 ngày 17/10/1945 đã ấn định thể lệ cho cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Văn bản này không chỉ quy định cụ thể nguyên tắc, trình tự và thủ tục bầu cử mà còn thể hiện rõ tư tưởng dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng chính quyền mới. Với những quy định tiến bộ về quyền bầu cử và ứng cử của công dân, Sắc lệnh số 51 đã đặt nền tảng pháp lý quan trọng cho cuộc bầu cử Quốc hội ngày 06/01/1946. Qua các tài liệu đang được bảo quản tại Trung tâm lưu trữ quốc gia III, có thể thấy rõ quá trình chuẩn bị nghiêm túc và tầm nhìn chiến lược của Chính phủ lâm thời trong việc thiết lập nền dân chủ ở Việt Nam.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong bối cảnh đất nước đứng trước muôn vàn khó khăn: thù trong, giặc ngoài, nạn đói, nạn dốt và sự chống phá của các thế lực phản động. Một trong những nhiệm vụ cấp bách của chính quyền cách mạng là nhanh chóng thiết lập cơ sở pháp lý của một nhà nước của dân, do dân và vì dân. Trong bối cảnh đó, việc tổ chức cuộc Tổng tuyển cử để bầu quốc dân đại hội là một quyết sách chiến lược, thể hiện tư tưởng dân chủ sâu sắc của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ngày 08/9/1945, Chính phủ đã ban hành sắc lệnh về Tổng tuyển cử, bầu ra Quốc hội – cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất đại diện cho ý chí và nguyện vọng của toàn dân.

Sắc lệnh v/v mở cuộc Tổng tuyển cử để bầu Quốc dân Đại hội Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Phủ Thủ tướng, hồ sơ số 585, tờ số 04.
Theo Sắc lệnh, tất cả công dân Việt Nam không phân biệt nam nữ, giàu nghèo, tôn giáo, dân tộc, đều có quyền bầu cử và ứng cử dựa trên nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín, trừ những người đã bị tước mất công quyền và những người trí óc không bình thường. Đây là điểm đặc biệt tiến bộ của Sắc lệnh – một bước tiến vượt bậc so với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới thời bấy giờ. Bởi nó trao quyền chính trị bình đẳng cho phụ nữ.
Cũng theo Sắc lệnh, 300 người là số đại biểu ấn định. Quốc dân Đại hội Tân Trào họp ngày 16–17/8/1945 đã khẳng định việc Nước Việt Nam sẽ theo chính thể Dân chủ Cộng hòa và họ sẽ thay mặt toàn thể nhân dân Việt Nam ấn định hiến pháp. Việc này thể hiện Quốc dân đại hội có quyền lực tối cao. Việc triệu tập một quốc dân đại hội khi đó sẽ thúc đẩy toàn dân tham gia vào công cuộc củng cố nền độc lập và chống nạn ngoại xâm.
Để ấn định thể lệ cuộc Tổng tuyển cử, quy định cụ thể nguyên tắc, trình tự, thủ tục tổ chức bầu cử trong cả nước Sắc lệnh số 51 đã được Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành ngày 17/10/1945. Đây là văn bản pháp quy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đặt nền tảng cho cuộc Tổng tuyển cử ngày 06/01/1946 – cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

Sắc lệnh số 51 ấn định thể lệ cuộc Tổng tuyển cử. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Phủ Thủ tướng, hồ sơ số 585.
Sắc lệnh gồm 12 chương, 70 điều. Theo Sắc lệnh, danh sách người ứng cử sẽ do UBND tỉnh, thành phố phụ trách lập lên dựa trên thông tin ứng viên gửi trước ngày bỏ phiếu 15 ngày. Danh sách này được niêm yết tại các nơi công cộng chậm nhất là 5 ngày trước ngày bầu cử. Số đại biểu mỗi tỉnh, thành phố phải căn cứ vào số dân để ấn định. Con số này có thể tăng lên ở các thành phố có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng và được lập theo mẫu ấn định sẵn.

Bảng số đại biểu theo tỉnh, thành phố ấn định theo Sắc lệnh. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Phủ Thủ tướng, hồ sơ số 585, tờ 13,14.Tại chương 7, Sắc lệnh quy định mỗi cử tri phải trực tiếp đi bầu, không được ủy quyền, cũng không được bầu bằng cách gửi thư. Cử tri sẽ bầu bằng phiếu kín.
Nếu cử tri không biết viết Quốc ngữ, nhưng biết viết chữ Hán, tạm thời được phép viết chữ Hán trong phiếu bầu. Để trợ giúp cho những cử tri không biết viết chữ Quốc ngữ cùng chữ Hán, ban tổ chức lập ra một tiểu ban gồm 3 người. Tiểu ban này được lập trước khi bắt đầu bỏ phiếu. Trong số 3 người đó, 1 người thuộc ban phụ trách cuộc bẩu cử cử ra, 2 người còn lại do dân làng, tỉnh lỵ hay khu phố bầu ra. Họ sẽ tiến hành viết giúp cho người đi bầu. Một trong ba người của tiểu ban sẽ trực giúp cử tri việc viết phiếu, hai người còn lại đảm nhiệm việc giám sát,kiểm đếm.
Khi lập xong, tiểu ban đó phải tuyên thề trước mặt các người đi bầu việc viết đúng theo lời người đi bầu và giữ bí mật.Tại chương 9, Sắc lệnh ấn định việc kiểm phiếu được tiến hành ngay sau lúc bỏ phiếu xong. Việc kiểm đếm này ban phụ trách bầu cử sẽ tiến hành ngay tại mỗi làng, tỉnh lỵ hay khu phố trước mặt công chúng. Những phiếu không có dấu của Ủy ban nhân dân, phiếu trắng hay phiếu có chữ ký của người đi bầu đều không hợp lệ. Sau khi làm bảng thống kê các phiếu xong thì ban phụ trách cuộc bầu cử phải lập biên bản. Biên bản này phải có đầy đủ chữ ký của tất cả các thành viên ban phụ trách cũng như chữ ký của hai người đi bầu được mời vào việc kiểm phiếu. Sau đó ban phụ trách sẽ đọc biên bản cho các người đi bầu có mặt tại chỗ bỏ phiếu nghe. Phiếu kiểm xong sẽ niêm phong có chữ ký của ban phụ trách và dấu của Ủy ban nhân dân và bỏ vào hòm phiếu khóa lại, chìa khóa hòm phiếu sẽ do một người trong ban phụ trách giữ.

Những quy định cụ thể về tổ chức bầu cử và kiểm phiếu cuộc bầu toàn tỉnh. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Phủ Thủ tướng, hồ sơ số 585, tờ 10,11,12.
Đáng chú ý, Sắc lệnh số 51 còn được viết tay bằng tiếng Pháp. Đây là nguồn tư liệu quý, phản ánh quá trình soạn thảo và hoàn thiện văn bản pháp quy trong giai đoạn đầu xây dựng chính quyền cách mạng. Những dòng chữ viết tay, cùngcác dấu vết chỉnh sửa trên tài liệu, đã góp phần làm sáng tỏ bối cảnh lịch sử và điều kiện hoạt động của bộ máy nhà nước non trẻ, đồng thời cung cấp thêm những bằng chứng sinh động về quá trình chuẩn bị cho cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Bản viết tay bằng tiếng Pháp của Sắc lệnh. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Phủ Thủ tướng, hồ sơ số 585, tờ 16-32.
Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn của cuộc Tổng tuyển cử, ngày 2 tháng 12 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Việc ban hành Sắc lệnh số 71-SL ngày 02/12/1945 về việc bổ khuyết Điều thứ 11 Sắc lệnh số 51-SL ngày 17/10/1950 nhằm tạo điều kiện cho người ứng cử và Sắc lệnh số 72-SL ngày 02/12/1945 về việc bổ khuyết Bảng về số đại biểu từng tỉnh và thành phố định theo Sắc lệnh số 51-SL ngày 17/10/1945 của Chủ tịch Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Vào thời điểm năm 1945 tại Việt Nam, hệ thống giao thông đi lại khó khăn, bị chia cắt; phương tiện thông tin liên lạc thì rất thô sơ. Sắc lệnh 51 trước đó quy định quy trình ứng cử khá chặt chẽ, nhưng thực tế cho thấy nhiều người ứng cử không thể di chuyển về nơi mình muốn ứng cử để nộp đơn đúng hạn. Để đáp ứng tình hình thực tiễn một cách linh hoạt, Sắc lệnh 71 đã được Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa ban hành vào ngày 2/12/1945. Sắc lệnh cho phép người ứng cử nộp đơn ngay tại nơi mình đang cư ngụ và yêu cầu Ủy ban Nhân dân nơi đó xác nhận, sau đó giấy tờ sẽ được chuyển sau. Điều này giúp tháo gỡ khó cho các sĩ phu, trí thức hoặc cán bộ đang đi công tác xa quê hương.

Sắc lệnh số 71 ngày 2/12/1945 bổ khuyết điều 11, chương 5 của Sắc lệnh 51. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Phủ Thủ tướng, hồ sơ 585, tờ 02.
Tiếp tục rà soát danh sách số lượng đại biểu tại Sắc lệnh 51, Chính phủ nhận thấy cần phải bổ sung hoặc thay đổi số lượng đại biểu ở một số địa phương đặc thù như Huế, Đà Nẵng để đảm bảo tính đại diện đầy đủ và công bằng. Với Sắc lệnh 72 đã bổ sung thêm đại biểu cho các tỉnh, thành phố và đặc biệt là chú trọng đến đại biểu của các dân tộc thiểu số để đảm bảo khối đại đoàn kết toàn dân.

Sắc lệnh số 72 ngày 2/12/1945 bổ khuyết bảng số đại biểu từng tỉnh và thành phố theo Sắc lệnh 51. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Phủ Thủ Tướng, hồ sơ 585, tờ 03.
Việc ban hành nối tiếp các sắc lệnh này có ý nghĩa chiến lược quan trọng. Một mặt nhằm đảm bảo quyền ứng cử và bầu cử rộng rãi nhất. Hai sắc lệnh này thể hiện tinh thần dân chủ triệt để. Chính phủ tìm mọi cách tạo điều kiện thuận lợi nhất về thủ tục hành chính để bất kỳ công dân nào có tài, có đức cũng có thể tham gia ứng cử, không bị rào cản địa lý hay thủ tục làm khó. Mặt khác với Sắc lệnh số 72 đã góp phần củng cố khối Đại đoàn kết dân tộc. Việc điều chỉnh số lượng đại biểu tại Sắc lệnh 72, đặc biệt là việc ấn định số lượng đại biểu cho “các dân tộc thiểu số”, cho thấy tầm nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xây dựng một Quốc hội đa dạng, đại diện cho tất cả tầng lớp và anh em các dân tộc trên đất nước Việt Nam.
***
Tóm lại, Sắc lệnh số 51 ngày 17/10/1945 và các Sắc lệnh bổ khuyết văn bản này không chỉ quy định thể lệ cho cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà còn đặt nền móng cho việc xây dựng hệ thống pháp luật về bầu cử ở Việt Nam. Những quy định về quyền bầu cử của công dân, nguyên tắc bỏ phiếu kín, việc lập danh sách ứng cử viên, tổ chức kiểm phiếu công khai… đã thể hiện rõ tư tưởng dân chủ và tinh thần tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân trong những ngày đầu xây dựng chính quyền cách mạng.
Trải qua quá trình phát triển của đất nước, các quy định về bầu cử ngày càng được hoàn thiện trong hệ thống pháp luật, tiêu biểu là các quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân. Tuy vậy, những nguyên tắc cơ bản như phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín trong vẫn được kế thừa và phát triển qua các giai đoạn. Điều đó cho thấy Sắc lệnh số 51 và những sắc lệnh về Tổng tuyển cử đầu tiên do Chính phủ lâm thời ban hành vẫn còn nguyên giá trị.
Phạm Vân (Trung tâm Lưu trữ quốc gia III)
Nguồn: Trang thông tin Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước