Mộc bản triều Nguyễn sách Đại Nam thực lục không chỉ lưu giữ diễn biến lịch sử mà còn phản ánh một chiến lược kiểm soát tài chính cụ thể của các vua Nguyễn. Từ những con dấu sắt đóng trên nén bạc đến các sắc lệnh cấm xuất biên, đây là minh chứng về việc thiết lập các quy định bảo vệ “túi tiền” quốc gia trước áp lực mậu dịch quốc tế thế kỷ XIX.
 
Nói đến chuyện làm kinh tế thời xưa, người ta hay nghĩ đến việc hạn chế lưu thông hàng hóa. Nhưng lật lại những trang tài liệu của bộ Đại Nam thực lục, có thể thấy triều đình cũng phải xử lý bài toán tỉ giá và ngoại tệ tương tự hiện nay. Trong khối di sản tư liệu thế giới này, chuyện vàng bạc không chỉ là món đồ trang sức hay của để dành, mà nó là nguồn lực của cả một bộ máy. Các vị quân chủ nhà Nguyễn sớm nhận ra rằng, nếu cứ để vàng bạc tiếp tục đưa ra ngoài qua những con thuyền buôn thì nguồn lực trong nước sẽ suy giảm. Thế nên, thay vì đưa ra các biện pháp mang tính hình thức, các vua đã đặt ra những quy định rất cụ thể.

Bản dập Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, quyển 21, mặt khắc 9 ghi chép về việc vua Gia Long hạ lệnh vàng thoi, bạc thoi công hay tư đều phải có dấu để chống tệ làm hàng pha tạp chất kém chất lượng.

Từ cái dấu sắt định danh đến chuyện “khu trú” thuyền buôn
Mọi chuyện bắt đầu một cách có hệ thống từ thời vua Gia Long. Hồi ấy, kim loại quý lưu thông trên thị trường có mức độ tự do nhất định. Theo Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, quyển 21, mặt khắc 9, nhà vua đã ban một lệnh có nội dung rõ ràng và chặt chẽ: dù là vàng thoi hay bạc thoi, của quan hay của dân, cứ lưu thông là phải có dấu. Cái dấu này giống như một xác nhận về độ tinh khiết, để người ta không phải lo về việc sai lệch chất lượng, pha tạp chất làm giảm giá trị đồng tiền.

Đến thời vua Minh Mệnh, câu chuyện lại chuyển sang một giai đoạn mới khi các thuyền buôn nước ngoài bắt đầu cập bến thường xuyên. Nhà vua ghi nhận một thực tế: họ mang đến những mặt hàng như thủy tinh, vải vóc mà triều đình gọi là “vật vô dụng”, rồi đổi lấy vàng bạc mang về nước. Trước việc nguồn lực được đưa ra ngoài, vua Minh Mệnh trao đổi với bộ Hộ rằng: “Vàng, bạc, đồng, tiền đều là vật quý của nước, không thể để lọt ra ngoài”.

Nói là làm, triều đình thiết lập một hệ thống kiểm soát. Thuyền phương Tây muốn buôn gì thì buôn, cứ việc ghé Đà Nẵng mà vào, không đi nhiều nơi. Việc dồn tất cả về một mối giúp các quan thuế vụ thuận lợi trong việc kiểm soát, theo dõi dòng tiền ra vào một cách rõ ràng. Năm 1828, một sắc lệnh được ban ra: không cho phép tư nhân mang vàng bạc ra khỏi biên giới. Thuyền nào có hành vi vi phạm thì toàn bộ hàng hóa sẽ bị tịch thu sung công, còn quan địa phương mà không thực hiện đúng quy định thì cũng bị xử lý.

Bản dập Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 81, mặt khắc 21 ghi chép về việc Cục tạo tác ở Bắc Thành có 6 con dấu bằng sắt để in vào nén vàng bạc phục vụ việc lưu thông.

Khép kín quy trình từ hầm mỏ đến ngân khố
Để chính sách không chỉ nằm trên giấy, triều đình phải có công cụ thực hiện. Và thế là các công cụ kỹ thuật được áp dụng. Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 81, mặt khắc 21 có ghi lại một chi tiết cụ thể: Cục Tạo tác ở Bắc Thành được cấp hẳn 6 con dấu bằng sắt. Công dụng của chúng là để đóng lên các nén vàng bạc trước khi chúng được đem đi tiêu dùng. Có cái dấu sắt này rồi, vàng bạc không rõ nguồn gốc hoặc không đạt chuẩn có thể được nhận diện. Nó giống như một hình thức xác nhận cho mỗi nén bạc, đảm bảo mọi thứ đều nằm trong sổ sách của triều đình.

Nhưng vua Minh Mệnh còn tính đến một bước tiếp theo. Thay vì đợi vàng bạc ra thị trường rồi mới đi kiểm soát, nhà vua quyết định quản lý từ nguồn. Năm 1837, triều đình ra thông báo quản lý trực tiếp toàn bộ các mỏ vàng, bạc ở Thái Nguyên và Tuyên Quang. Ai định khai thác trái phép hay khai thác tư nhân không phép thì sẽ bị xử lý theo quy định. Bằng cách quản lý này, dòng chảy kim loại quý được đưa từ hầm mỏ về kho Nội tàng. Sau khi được kiểm định và đóng dấu sắt tại Cục Tạo tác, chúng mới được phép ra ngoài lưu thông. Một quy trình khép kín khiến việc buôn lậu qua đường tiểu ngạch trở nên khó thực hiện hơn.

Nhìn lại những cứ liệu từ Mộc bản, ta thấy một cách tiếp cận cụ thể của tiền nhân. Không cần nhiều cách diễn đạt, chỉ bằng những con dấu sắt và các quy định về cửa biển, triều Nguyễn đã thiết lập một cơ chế kiểm soát tài chính trong bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi. Những bản dập Mộc bản còn lưu lại đến nay không chỉ là cổ vật, mà là tư liệu về một thời kỳ mà việc quản lý nguồn lực được thực hiện bằng cả pháp lý lẫn kỹ thuật, tương đối ổn định và có hiệu quả.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Hồ sơ H004, Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, quyển 21 – Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV 
2. Hồ sơ H004.3, Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 81 – Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV 
3. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục – Tập 02 (Chính biên, Đệ nhị kỷ), NXB Giáo dục. 
4. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục – Tập 03 (Chính biên, Đệ nhị kỷ), NXB Giáo dục. 
5. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục – Tập 04 (Chính biên, Đệ nhị kỷ), NXB Giáo dục. 
6. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục – Tập 05 (Chính biên, Đệ nhị kỷ), NXB Giáo dục. 

Nguyễn Thị Thanh (Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)

Nguồn: Trang thông tin Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước