Trong dòng chảy không ngừng của thời gian, mỗi dân tộc đều tìm cho mình một phương thức riêng để bảo tồn ký ức. Vào những ngày tháng Tư, khi cả nước hướng về Ngày Sách và Văn hóa đọc, chúng ta không chỉ tôn vinh những trang giấy mới mà còn cần lắng lòng để chiêm nghiệm về những “cuốn sách gỗ” đặc biệt của dân tộc. Đó là Mộc bản triều Nguyễn – Di sản tư liệu thế giới đầu tiên của Việt Nam, một minh chứng bằng hiện vật cho thấy tầm vóc của một nền văn hiến rực rỡ đã được gìn giữ qua bao thăng trầm.

Bìa sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV
1. Điểm tựa của tính tín sử và giá trị pháp lý
Nếu coi lịch sử là một tòa lâu đài đồ sộ, thì Mộc bản triều Nguyễn chính là những viên gạch nền móng vững chắc nhất. Với hơn 33.000 tấm bản khắc, khối tài liệu này ghi chép toàn diện diện mạo quốc gia từ chính trị, quân sự, ngoại giao đến địa lý, văn hóa.
Sức nặng của Mộc bản nằm ở tính xác thực tuyệt đối. Khác với những bản chép tay có thể phát sinh sai lệch qua các đời, Mộc bản là “văn bản gốc” được hình thành từ một quy trình biên soạn nghiêm cẩn của Quốc Sử Quán. Từng chữ, từng dòng trước khi chạm lưỡi đục vào gỗ đều phải trải qua sự kiểm duyệt, “ngự lãm” của Hoàng đế. Như vua Thành Thái từng dụ rằng: “Nước có chính sử, cốt để ghi lấy dấu tích về lời nói việc làm và chính trị, để ngụ những cốt yếu về tâm thuật và tinh thần”.[1]
Đặc biệt, trong công cuộc khẳng định chủ quyền dân tộc, Mộc bản là kho tư liệu quý giá về quốc hiệu “Việt Nam”, về cương vực lãnh thổ và những minh chứng không thể chối cãi về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những trang sử gỗ này chính là vũ khí văn hóa sắc bén, bảo vệ công lý lịch sử cho muôn đời sau.
2. Sự giao thoa giữa trí tuệ mực thước và bàn tay nghệ nhân
Mỗi tấm mộc bản là một tác phẩm hội tụ sự kiên trì và lòng tận tụy. Để tạo nên những trang sách vĩnh cửu, tiền nhân đã chắt lọc những chất liệu bền bỉ nhất: từ gỗ thị, gỗ táo và gỗ cây nha đồng mềm mịn nhưng không nứt nẻ, đến việc tuyển chọn những “phó bảng” – những người thợ khắc có bàn tay tinh hoa.
Nhìn vào những nét chữ khắc ngược thanh thoát, người ta thấy hiện rõ sự điêu luyện của nghệ thuật thư pháp. Đó không chỉ là kỹ thuật, mà là tâm huyết của người nghệ sĩ đặt vào từng nét mác, nét phẩy. Sự phối hợp giữa tư duy uyên bác của các sử gia và đôi bàn tay vàng của nghệ nhân dân gian đã tạo nên những bản in đạt đến độ chuẩn xác và thẩm mỹ cao, trở thành mẫu mực cho các thế hệ sau soi chiếu.
3. Khát vọng tự cường và mạch ngầm văn hiến
Việc triều đình chú trọng khắc in mộc bản không chỉ dừng lại ở công tác lưu trữ, mà sâu xa hơn, đó là biểu hiện của ý chí tự lực tự cường. Cha ông ta quan niệm “văn hiến” là gốc rễ của quốc gia; muốn dân tộc trường tồn, trí tuệ của quá khứ phải được truyền lại cho hậu thế một cách vẹn nguyên nhất.
Mộc bản chính là hiện thân của khát khao độc lập về văn hóa. Giữa những biến động của lịch sử, việc giữ gìn và phát triển hệ thống kinh sách, sử liệu riêng chính là lời khẳng định về một quốc gia có chủ quyền, có nền giáo dục tự chủ. Mỗi tấm mộc bản như một viên gạch xây nên bức tường thành văn hóa, giúp bản sắc Việt Nam không bị hòa tan trước những luồng gió ngoại lai.
4. Sứ mệnh thầm lặng của “người gác đền” di sản
Tại số 2 Yết Kiêu, phường Cam Ly – Đà Lạt, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV đang là nơi gìn giữ báu vật này. Công tác bảo quản mộc bản tại đây được thực hiện với một sự kiên nhẫn và tỉ mỉ đáng kinh ngạc. Từ việc kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm đến việc vệ sinh, chống nấm mốc, mỗi hành động đều chứa đựng trách nhiệm lớn lao đối với lịch sử.
Trong kỷ nguyên số, vai trò của người làm lưu trữ càng trở nên quan trọng. Họ không chỉ giữ hiện vật trong kho kín mà còn đang nỗ lực số hóa, đưa di sản tiếp cận với công chúng mọi lúc, mọi nơi. Những cuộc triển lãm trực tuyến, các ứng dụng tương tác đã khiến những con chữ Hán – Nôm cổ xưa trở nên sống động hơn với thế hệ trẻ.
Sự thầm lặng của ngành lưu trữ chính là nền tảng để tinh hoa dân tộc không bị đứt gãy. Nếu tiền nhân có công tạo tác, thì những người làm lưu trữ hôm nay có công hồi sinh và lan tỏa giá trị di sản trong dòng chảy đương đại.
Lời kết
Chào mừng Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam, chúng ta nghiêng mình trước trí tuệ và công lao của tổ tiên. Mộc bản triều Nguyễn không chỉ là những tấm gỗ vô tri, mà là mạch ngầm lịch sử chảy mãi. Hiểu và trân trọng giá trị từ những “cuốn sách gỗ” này chính là cách chúng ta xây dựng điểm tựa vững chắc cho khát vọng vươn tầm của đất nước trong tương lai.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục, Tập 1, Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
2. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 2, Ngô Hữu Tạo và các cộng sự dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
3. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 6, Cao Huy Giu và các cộng sự dịch, Hoa Bằng hiệu đính, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
4. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 7, Nguyễn Ngọc Tỉnh và các cộng sự dịch, Cao Huy Giu và Nguyễn Trọng Hân hiệu đính, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
5. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 9, Nguyễn Ngọc Tỉnh và các cộng sự dịch, Nguyễn Mạnh Duân và Nguyễn Trọng Hân hiệu đính, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
6. Quốc sử quán triều Nguyễn, Sách Đại nam Thực lục Chính biên đệ tứ kỷ, NXB Giáo dục, năm 2004
Chú thích:
[1] : Đại nam Thực lục Chính biên đệ tứ kỷ, NXB Giáo dục, 2004, T7, tr 5
Vân Thanh