Trong giai đoạn chuyển tiếp đầy biến động của lịch sử Việt Nam giữa thế kỷ XX, sự ra đời của chính thể Quốc gia Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Quốc trưởng Bảo Đại đã nỗ lực kiến tạo những biểu tượng quyền lực và sự tự chủ quốc gia. Giữa những nỗ lực đó, sự xuất hiện của du thuyền Hương Giang không chỉ là một sự kiện xa hoa đơn thuần mà còn mang trong mình nhiều ý nghĩa sâu sắc.

Du thuyền Hương Giang. Nguồn: Internet
1. Từ du thuyền tư nhân Anh đến biểu tượng của Quốc gia Việt Nam
Lịch sử của du thuyền Hương Giang bắt đầu từ năm 1938 tại Anh Quốc, khi đó nó được đóng cho một nhà kỷ nghệ gia dưới tên gọi Maid Marion với chi phí lên đến 20 triệu quan, một con số khổng lồ vào thời điểm đó, minh chứng cho sự sang trọng và đẳng cấp của con thuyền. Tuy nhiên, do chính sách thuế đánh vào các mặt hàng xa xỉ tại Anh ngày càng nặng nề, những người thừa kế của vị chủ nhân đầu tiên đã buộc phải bán lại nó.
Hành trình đến với Việt Nam của chiếc du thuyền này là một sự kiện đáng chú ý. Lần đầu tiên chiếc Maid Marion đến Việt Nam cùng với một đoàn thủy thủ người Anh, sau đó quay về. Lần thứ hai do Trung tá Hải quân Pháp Reynaud đưa từ Marseille đến Sài Gòn, chuyến đi kéo dài 32 ngày, trong đó mất 21 ngày để đến Singapore và luôn có đoàn hộ tống đi kèm. Đậu lại đây, chiếc Hương Giang chờ Quốc trưởng Bảo Đại từ Đà Lạt đáp phi cơ đến và trở về Sài Gòn cùng với chiếc thuyền này. Quốc trưởng muốn treo cờ Việt Nam cho trọng thể nhưng luật quốc tế đã phá hỏng ý muốn của người.
Ngày 26/10/1949, du thuyền Hương Giang chính thức có mặt tại Sài Gòn về với Quốc trưởng Bảo Đại. Khi con thuyền cập bến, hai bản Quốc thiều cùng với kèn trống nổi lên, tiếp đến là 15 phát thần công vang rền, cờ Việt Nam tung bay phất phới, từ từ kéo lên trên thuyền.
Chính quyền Quốc gia Việt Nam đã mua lại du thuyền này với giá 82.000 Anh-kim. Việc chuyển giao được thực hiện bởi Trung tá Hải quân Pháp Reynaud, nhưng ngay sau đó trách nhiệm vận hành con thuyền đã được giao hoàn toàn cho bộ Tham mưu và đoàn thủy thủ người Việt Nam. Đây là một hành động mang tính biểu tượng cao, thể hiện nỗ lực tự chủ và xây dựng một đội ngũ chuyên nghiệp của chính quyền mới.
Du thuyền Hương Giang sau đó nhiều lần đổi tên và cho đến đầu của thập niên 1980, nó được bỏ hoang tại vùng Ca-ri-bê, kết thúc sứ mệnh vận tải của mình.
2. Đặc điểm kỹ thuật và sứ mệnh lịch sử
Du thuyền Hương Giang sở hữu những thông số kỹ thuật ấn tượng vào thời bấy giờ. Với chiều dài 52 mét, rộng 8 mét và trọng tải 500 tấn, con thuyền có thể chở được 200 tấn hàng hóa và di chuyển với tốc độ 12 hải lý/giờ. Trong các phòng đều có máy lạnh, nhiệt độ có thể hạ xuống được 20 độ C, nội thất sạch sẽ và tiện nghi. Những thông số này cho thấy đây không chỉ là một chiếc du thuyền mà còn có tiềm lực vận tải đáng kể.
Vai trò của Hương Giang được định hình ngay từ đầu là một phương tiện phục vụ cho Quốc trưởng Bảo Đại. Khi mới mua về, thuyền Hương Giang đã nhiều lần vận tải gạo để tiếp tế cho các tỉnh Trung và Bắc, tiếp đến là thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu nghề đánh cá. Sau khi trang hoàng lại thật đẹp đẽ thì Hương Giang dùng vào việc tiếp các nước ngoại giao hoặc Quốc trưởng dùng đi viếng thăm các nước.
Chiếc du thuyền Hương Giang từng đưa Quốc trưởng Bảo Đại đến nhiều nơi trên lãnh thổ Việt Nam, trở thành biểu tượng xa hoa một thời. Đặc biệt, năm 1953, con thuyền ấy còn thực hiện chuyến hải trình lịch sử, đưa Bảo Đại từ Sài Gòn sang Pháp. Suốt 60 ngày đằng đẵng, Hương Giang băng qua đại dương trong 40 ngày lênh đênh sóng gió, 20 ngày còn lại quá cảnh ở Singapore, Colombo, Aden, Port-Said và cập bến Cannes.
![]() |
![]() |
Bản dự trù kinh phí cho du thuyền Hương Giang đi Pháp
3. Tổ chức nhân sự và chi phí vận hành
Việc vận hành một du thuyền hiện đại và sang trọng như Hương Giang đòi hỏi một bộ máy nhân sự và một khoản chi phí không hề nhỏ. Theo tài liệu ghi chép còn lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV- Đà Lạt cho biết thuyền trưởng là Nguyễn Văn Ba, người Mỹ Tho và khoảng 30 thủy thủ chuyên phục vụ trên thuyền. Đội ngũ nhân sự này được tuyển chọn từ nhiều tỉnh thành từ Bắc chí Nam, thậm chí có cả người Hoa, tất cả đều được ký hợp đồng lao động, được cấp 3 bộ quân phục và mũ hải quân /1 người/1 năm. Có một điều rất nghịch lý ở đây là lương và phục cấp của thuyền trưởng và thủy thủ đoàn thấp hơn so với thuyền trưởng và thủy thủ đoàn phục vụ trên những con thuyền thương mại khác. Vì vậy thuyền trưởng Nguyễn Văn Ba đã từng đệ đơn lên Văn phòng Đức Quốc Trưởng để xin tăng lương và phụ cấp.
Chi phí vận hành là một gánh nặng kinh tế rất đáng kể. Chỉ riêng trong năm 1951, tổng chi phí cho xăng dầu và sửa chữa đã lên tới 1.104.300 đồng. Ngoài ra lương và phụ cấp cho đội ngũ nhân sự phục vụ trên thuyền cũng khá cao.
Về mặt an ninh, nhận thức được những rủi ro trong bối cảnh chiến tranh, thuyền được trang bị 3 súng lục, 3 súng tiểu liên, và 2 súng trung liên cùng đạn dược.
4. Kết luận
Du thuyền Hương Giang qua những tư liệu còn lại hiện lên như một chứng nhân đặc biệt của lịch sử Việt Nam giữa thế kỷ XX. Nó không chỉ là phương tiện xa hoa phục vụ Quốc trưởng Bảo Đại mà còn mang trong mình khát vọng tự chủ, ý chí khẳng định chủ quyền của một chính thể non trẻ.
THANH BIÊN
Nguồn: Trang Tạp chí Nghiên cứu lịch sử xứ Quảng
Tài liệu tham khảo:
1.Hồ sơ 243, Phông Phủ quốc trưởng Quốc Gia Việt Nam, TTLTQG IV
2. Hồ sơ 278, Phông Phủ quốc trưởng Quốc Gia Việt Nam, TTLTQG IV

