Trong hệ thống quản trị của vương Triều Nguyễn, việc ứng phó với thiên tai và bảo đảm đời sống dân sinh được ghi chép đồng bộ trong bộ Đại Nam thực lục và hệ thống Mộc bản Triều Nguyễn – Di sản tư liệu thế giới. Những ghi chép này không chỉ phản ánh trách nhiệm của triều đình đối với nhân dân mà còn cung cấp các cứ liệu xác thực về quy trình xử lý khủng hoảng thời quân chủ. Thay vì chỉ cứu trợ nhất thời, triều đình đã thiết lập một hệ thống từ ban cấp lương thực khẩn cấp đến các biện pháp duy trì sản xuất nông nghiệp. Việc công bố các nội dung tại Quyển 22 và Quyển 24 thuộc Chính biên đệ nhất kỷ dưới đây sẽ làm rõ phương thức điều hành của triều đình trước những biến động lớn của thiên nhiên.
 
Cơ chế ứng phó khẩn cấp và hiệu lệnh chẩn tế từ tư liệu Mộc bản

Sử liệu Triều Nguyễn cho thấy công tác chẩn tế (cứu giúp người đói) được thể chế hóa bằng các quy định cụ thể và sự giám sát trực tiếp từ nhà vua. Năm 1819, vua Gia Long đã ban dụ nhấn mạnh: “Nuôi dân như nuôi con là việc đầu của vương giả phát chính thi nhân” (Đại Nam thực lục, tập 1). Tư tưởng này được cụ thể hóa bằng các hành động thực tế tại địa phương khi xảy ra thiên tai, đặc biệt là tại vùng Bắc Thành – nơi thường xuyên đối mặt với nạn lụt lội.

Ảnh 1: Bản dập Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, quyển 24, mặt khắc 15, 16 về việc Bắc Thành nước lớn, đê vỡ, thành thần đem thóc kho phát chẩn rồi đem việc tâu lên. Vua sai quan địa phương xét những người bị tai nạn nhiều quá thì cho vay tiền để đong thóc giống gieo mạ, không bỏ lỡ mùa màng.

Dựa trên Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, quyển 24, mặt khắc 15, 16, tài liệu ghi lại sự việc tại Bắc Thành khi nước lớn tràn về làm vỡ đê. Trong tình huống khẩn cấp, các quan Thành thần đã thực hiện quyền hạn tại chỗ: “Bắc Thành nước lớn, đê vỡ, thành thần đem thóc kho phát chẩn rồi đem việc tâu lên”. Việc cho phép cơ sở mở kho phát thóc trước khi nhận được chỉ dụ từ kinh đô cho thấy triều đình ưu tiên tốc độ trong việc cứu đói, tránh tình trạng dân chúng ly tán do thiếu lương thực. Nhà vua sau đó đã phê chuẩn hành động này, xem đó là sự linh động cần thiết trong việc trị an.

Ảnh 2: Bản dập Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, quyển 22, mặt khắc 4 về việc Bắc Thành nước to, đê vỡ, lúa ruộng ngập mất, nhà dân bị trôi mất nhiều. Hạ chiếu cho thành thần vận chở tiền gạo chia đi chẩn cấp. Lại sai các trấn thần khám xét phân số lúa ruộng tổn thương để tâu lên.

Sự nhất quán trong chính sách này tiếp tục được khẳng định tại quyển 22, mặt khắc 4. Sử liệu mô tả khi đê vỡ, lúa ruộng bị ngập mất và nhà dân bị cuốn trôi nhiều, triều đình ngay lập tức hạ chiếu cho vận chuyển cả tiền và gạo chia đi các hạt để chẩn cấp. Sự hỗ trợ này bao gồm cả lương thực để ăn và ngân sách để dân chúng sửa sang lại nơi ở bị hư hại, giúp ổn định tình hình đời sống tại các vùng bị thiên tai tàn phá nghiêm trọng.

Chính sách duy trì sản xuất và các thiết chế bảo trợ xã hội

Bên cạnh việc ban cấp lương thực tạm thời, triều đình Nguyễn chú trọng đến các biện pháp khôi phục sản xuất để đảm bảo nguồn thu và đời sống lâu dài. Theo nội dung khắc trên Mộc bản (quyển 24), sau khi thực hiện phát chẩn, vua sai quan địa phương rà soát những hộ bị thiệt hại nặng để cho vay tiền đong thóc giống gieo mạ, với yêu cầu nghiêm ngặt là không được để dân bỏ lỡ mùa màng. Đây là biện pháp can thiệp trực tiếp vào quy trình nông nghiệp, đảm bảo chu kỳ sản xuất không bị gián đoạn sau lũ lụt.

Đồng thời, các Trấn thần có nhiệm vụ trực tiếp xuống địa bàn khám xét, thống kê phân số lúa ruộng bị tổn thương để tâu lên. Con số này là căn cứ để triều đình thực hiện các đợt miễn, giảm thuế ruộng hoặc thuế thân. Năm 1837, vua Minh Mệnh đã ban lệnh xóa bỏ toàn bộ các khoản nợ tiền và thóc của dân vay từ năm 1829 trở về trước (Đại Nam thực lục, tập 5). Việc xóa nợ này được thực hiện nhằm mục đích “khoan thư sức dân”, giúp người dân có điều kiện tái thiết kinh tế sau nhiều năm đối mặt với hạn hán và lụt lội diện rộng.

Ngoài ra, công tác bảo trợ xã hội còn được duy trì qua các “Nhà Dưỡng tế” thiết lập tại các tỉnh. Đây là nơi nuôi dưỡng những đối tượng yếu thế gồm người già cô đơn, trẻ mồ côi và người tàn tật. Sử liệu năm 1819 ghi nhận việc lập sở dưỡng tế tại xã Thế Lại không chỉ để cấp phát tiền gạo mà còn là nơi chăm sóc người mắc dịch bệnh. Song song với hỗ trợ, triều đình thực hiện giám sát nghiêm ngặt đội ngũ quan lại địa phương. Những viên quan tận tụy như Tri huyện Nguyễn Khắc Điều được ban thưởng, trong khi những người thiếu trách nhiệm, che giấu tình hình dân đói tại tỉnh Khánh Hòa đã bị xử phạt nặng theo luật định để giữ nghiêm kỷ cương trong việc chẩn tế.

Nhân ngày Công tác xã hội Việt Nam (25/3), việc công bố các mặt khắc Mộc bản triều Nguyễn về chủ đề chẩn tế đã cung cấp những cứ liệu xác thực về hệ thống bảo trợ dân sinh trong lịch sử. Các nội dung tại quyển 22 và quyển 24 sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, không chỉ minh chứng cho quy trình ứng phó thiên tai bài bản – ưu tiên cứu trợ khẩn cấp đi đôi với phục hồi nông nghiệp – mà còn khẳng định kỷ cương trong việc thực thi chính sách an dân của tiền nhân. Những dòng chữ khắc trên di sản tư liệu thế giới này chính là bằng chứng sống động về trách nhiệm của nhà nước đối với cộng đồng, đồng thời là nguồn sử liệu quý giá cho công tác lưu trữ và nghiên cứu hiện nay.

Tài liệu tham khảo:
1. Hồ sơ H004, Bản dập Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, Quyển 24, mặt khắc 15, 16 (Lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV).
2. Hồ sơ H004, Bản dập Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, Quyển 22, mặt khắc 4 (Lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV).
3. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Tập 1, 2, 4, 5 (Chính biên), NXB Giáo dục, Hà Nội, 2001.
4. Trích đoạn lời dụ của vua Gia Long (1819) – Đại Nam thực lục, Tập 1.
5. Sắc lệnh xóa nợ tiền thóc cho dân (1837) – Đại Nam thực lục, Tập 5.
6. Ghi chép về việc lập sở dưỡng tế tại xã Thế Lại (1819) – Đại Nam thực lục, Tập 1.

 
Nguyễn Thị Thanh (Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV)

Nguồn: Trang thông tin Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước