Trong lịch sử và văn hóa Việt Nam, hình tượng con ngựa thường xuất hiện trong truyền thuyết, nghệ thuật, tín ngưỡng, quân sự và ngoại giao. Ít có loài vật nào vừa mang chức năng sử dụng, vừa đảm nhiệm vai trò biểu tượng, lại vừa được tôn thờ trong cộng đồng cư dân nông nghiệp như loài ngựa. Qua những nguồn tư liệu như Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lục cho phép tiếp cận một cách đầy đủ và hệ thống về sự hiện diện của loài ngựa trong tâm thức và đời sống văn hóa người Việt. Việc khảo cứu các nguồn tư liệu này giúp lý giải vì sao “ngựa” trở thành một trong những hình tượng giàu biểu tượng bền bỉ nhất trong kho tàng di sản Việt Nam.

Loài ngựa trắng (Ảnh: Sưu tầm)

Năm Bính Ngọ 2026, là năm con ngựa chúng tôi xin gửi đến quý độc giả bài viết giới thiệu về hình tượng con ngựa trong tâm thức người Việt qua di sản Mộc bản triều Nguyễn để thấy được sức mạnh, sự nhanh nhẹn, trung thành của loài vật vừa mang giá trị thực dụng trong chiến trận, vận chuyển, liên lạc, vừa trở thành biểu tượng văn hóa – tín ngưỡng gắn với những truyền thuyết và nghi lễ cổ truyền.
1. “Ngựa” trong huyền thoại và truyền thuyết
Ở nước ta, ngựa tham gia chiến trận được biết đến đầu tiên là con ngựa sắt, xuất hiện trong truyền thuyết Phù Đổng Thiên Vương. Sau khi đánh tan giặc Ân, ngài Thánh Gióng đã cưỡi ngựa sắt phi về trời. Hình tượng con ngựa đã đại diện cho sức mạnh siêu nhiên, biểu tượng tinh thần chống ngoại xâm từ buổi đầu quốc gia Văn Lang.
Theo Mộc bản Đại Việt sử ký toàn thư bản kỷ, quyển 1, mặt khắc 3, 4 ghi về tích xưa Thánh Gióng đã chép rằng khi đất nước bị giặc xâm lăng, đứa trẻ ba tuổi bỗng cất tiếng xin vua “một thanh gươm, một con ngựa” để ra trận. Con ngựa sắt được cấp cho Gióng không chỉ là phương tiện chiến đấu mà là linh mã mang sức mạnh siêu nhiên. Khi Thánh Gióng cưỡi ngựa vươn vai lớn dậy, ngựa lao vào trận mạc, mở đường, cùng chủ nhân đánh tan quân thù. Kết thúc chiến công, Thánh Gióng cưỡi ngựa bay lên trời, khẳng định ngựa là linh vật đưa người anh hùng từ cõi trần về cõi thánh. Hình tượng ấy được lưu giữ trong nhiều thư tịch thời Nguyễn và tiếp tục hiện diện trong lễ hội Gióng, trở thành biểu tượng cho sức mạnh, sự bảo hộ và tinh thần quật cường của dân tộc Việt.
2. “Ngựa” trong ngoại giao và chiến trận
Tư liệu chính sử cho thấy ngựa chiến giữ vai trò quan trọng trong vấn đề ngoại giao và trong việc bảo vệ bờ cõi, lãnh thổ.
Sử sách nước ta nhiều lần ghi lại quân dân Đại Việt đã thu được nhiều ngựa chiến trong các lần bảo vệ biên giới. Dưới thời Vua Lý, vào năm Giáp Dần, tức niên hiệu Thuận Thiên thứ năm (1014), tướng của người Man bên kia biên giới là Dương Trường Huệ và Đoàn Kính Chí đem 20 vạn người vào cướp vùng giáp biên nước ta. Châu mục châu Bình Lâm (nay là vùng Tuyên Quang) là Hoàng Ân Vinh tâu lên, Vua Lý Thái Tổ sai Dực Thánh Vương đem quân đi đánh, chém đầu hàng vạn tên giặc, bắt sống nhiều ngựa không kể xiết. Vào thời điểm này, nước ta đang muốn hòa hoãn với nhà Tống, bèn đem 100 con ngựa chiến lợi phẩm của người Man vùng giáp biên giới nước ta sang biếu nhà Tống nhằm giữ hòa hiếu – một minh chứng cho việc ngựa được dùng làm vật phẩm ngoại giao có giá trị.

Bản dập Mộc bản sách Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ, quyển 2, mặt khắc 6 ghi chép ngựa được dùng làm vật phẩm trong ngoại giao. Nguồn: TTLTQGIV

Năm Quý Mùi (1043) vua Lý Thái Tông đã sai hai hoàng tử là Khai Hoàng Vương (Nhật Tôn) và Phụng Càn Vương (Nhật Trung) đi đánh dẹp loạn tại châu Ái, châu Văn, sau khi đánh dẹp xong hoàng tử Phụng Càn Vương dâng 4 con ngựa tốt bắt được. Vua đặt tên cho ngựa là Tái Thiên, Quảng Thắng, Truy Phong, Nhật Ngự. Điều này có thể thấy, dưới thời phong kiến, loài ngựa rất được quý trọng. (Sách Đại Việt sử ký toàn thư bản kỷ, quyển 2, mặt khắc 31).
Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư vào năm Canh Tý (1420), khi Lê Lợi đóng quân ở Đông Quan, quân Minh kéo đến vây hãm rất đông, bị nghĩa quân phục kích, chém đầu giặc khá nhiều và bắt được hơn trăm con ngựa. Năm Nhâm Dần (1422), nghĩa quân bị vây hãm bốn mặt ở núi Chí Linh, thiếu lương thực, chỉ ăn măng, rau, củ. Khi đó, chủ tướng Lê Lợi đã thịt cả con ngựa mình đang cưỡi để nuôi quân sĩ.
Năm Giáp Thìn (1424) có một trận đánh thắng lớn là trận Trà Lân, quân Minh bị tan vỡ lớn, chém được hơn 2000 thủ cấp giặc, bắt được hơn trăm cỗ ngựa. Sau đó, Lê Lợi đã chỉnh đốn ngựa, voi và quân lính chuẩn bị đánh tiếp. Năm Bính Ngọ (1426), Lê Lợi lại bắt được hơn 3 nghìn tên dò thám và 500 con ngựa chiến trong trận vây hãm thành Đông Đô (Hà Nội ngày nay). Năm Đinh Mùi (1427), nhà Minh đem 5 vạn quân và 1.000 ngựa để ồ ạt cứu viện, lại bị quân ta bắt chém chết 3.000 tên, thu 500 ngựa trong trận Pha Lũy (Hữu Nghị Quan). (Sách Đại Việt sử ký toàn thư bản kỷ, quyển 10, mặt khắc 36).
Tiếp đó, tướng Liễu Thăng, Mộc Thạch đem 20 vạn quân và 3 vạn ngựa chiến xâm lược, lại bị thua trận ở ải Chi Lăng, Liễu Thăng bị chém đầu, bắt sống hơn 1 nghìn tên và hơn 1 nghìn con ngựa, còn bị chết đuối ở khu vực thì nhiều không kể xiết. Mộc Thạnh thì chỉ còn một mình một ngựa tháo chạy. (Sách Đại Việt sử ký toàn thư bản kỷ, Quyển 10, mặt khắc 42).
3. Ngựa là phương tiện biểu thị lễ nghi
Trong chính sử, điển chế “khuynh cái hạ mã” được xác lập như một quy định nghi lễ – pháp độ nhằm bảo đảm sự tôn nghiêm của không gian triều đình, điện miếu và học cung. Từ thời Lý – Trần, triều đình quy định quan lại và người qua lại khi vào các khu vực tôn nghiêm phải xuống ngựa, hạ kiệu, nghiêng lọng để tỏ lòng kính cẩn. Năm Mậu Thân (1128), nhân quốc tang, triều đình còn ban lệnh cấm cưỡi ngựa trong kinh đô Thăng Long. Tại các cửa Hoàng Thành những tấm bia khắc chữ “Hạ Mã” được dựng lên như mốc cảnh giới bắt buộc thi hành. Các tấm bia này phản ánh rõ nguyên tắc lễ trị của nhà nước quân chủ: dùng nghi lễ để răn dạy, phân định trật tự và duy trì kỷ cương xã hội.
Trong tâm thức người Việt, ngựa quý phải là ngựa trắng, ngựa mà 4 chân có cựa như sử sách ghi lại. Ngựa trắng còn được tôn lên làm thần và được thờ ở đền Bạch Mã nay vẫn còn ở phố Hàng Buồm, Hà Nội. Có thể, tích truyện này xuất phát từ một dòng trong sách Đại Việt sử ký toàn thư: “Đời vua Lý Thái Tổ. Trong tàu ngựa nhà vua, có con ngựa trắng, phàm khi vua sắp đi thì nó tất hí lên trước. Vua đặt cho tên là Bạch Long thần mã”. (Mộc bản sách Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 2, mặt khắc 6). Dần dà, người dân Thăng Long đã coi đền Bạch Mã rất thiêng, là một trong “tứ trấn Thăng Long” nổi tiếng.

Bản dập Mộc bản sách Đại Việt sử ký toàn thư nói về “Bạch long thần mã”. Nguồn: TTLTQGIV

Trong quan niệm về thế giới tâm linh, sau khi những vị vua mất đi, triều đình thường xây những lăng tẩm bằng đá. Trong khuôn viên lăng phải tạc những ngựa đá, quan hầu bằng đá. Những lăng đá, ngựa đá đẹp nhất vẫn còn y nguyên như trong lăng Gia Long ở cố đô Huế. Sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 59 có chép “Sai bộ Công vẽ mẫu tượng đá quan văn, quan võ, lính thị vệ, voi đá, ngựa đá để tư đưa Quảng Nam, Thanh Hoa chế tạo (tượng quan văn, quan võ mỗi thứ 1 đôi, 6 tượng thị vệ, đều cao 3 thước 6 tấc ; voi đá 2 con, mỗi con cao 4 thước 1 tấc ; ngựa đá 2 con, mỗi con cao 2 thước 7 tấc). Khi chế tạo xong, đệ về Kinh, vua sai đem bày ở lăng Thiên Thụ (lăng Gia Long)”.
Ngựa còn dùng trong nghi lễ Tiến sĩ – cưỡi ngựa xem hoa, dưới triều vua Minh Mạng nhà vua đã ban ân điển này, sách Đại Nam chính biên đệ nhị kỷ, quyển 193 đã chép “Hôm ấy, Tiến sĩ mới lĩnh yến xong, trước hết đi xem vườn hoa của vua, lại cấp cho mỗi người một con ngựa thượng tứ, bộ Lễ mặc phẩm phục dẫn đi trước, biền binh che lọng đi theo, từ cửa đông đi ra, đi khắp các đường phố xem hoa, người đi xem đứng như bức tường, Tiến sĩ cưỡi ngựa xem hoa, bắt đầu từ đấy”.
4. Ngựa trạm dùng trong truyền tin:
Ngoài việc tham gia trận mạc, ngựa còn là phương tiện lợi hại để đưa tin, có những “ngựa trạm” để chuyên làm việc này, nhất là dưới thời Nguyễn.
Đinh Hợi, năm Minh Mệnh thứ 8 (1827), triều đình bắt đầu quy định phép nhà trạm chạy ngựa. Bộ Binh dâng tấu nêu rõ: nhà nước lập hệ thống nhà trạm nhằm truyền đạt các công vụ trọng yếu, việc “đặt trạm truyền mệnh” vốn đã có từ xưa. Dưới triều Nguyễn, chế độ nhà trạm được quy định theo mức độ khẩn cấp gồm tối khẩn, thứ khẩn và thường hành, bảo đảm rõ ràng và đầy đủ.
Tuy nhiên, đối với những việc đặc biệt cấp bách, cần truyền tin nhanh hơn hình thức đệ trạm thông thường, triều đình cho phép sử dụng ngựa chạy trạm. Ngựa trạm khi phi đệ phải có cờ hiệu tiêu biểu, tương tự trạm Kinh, để khi đến các trạm dọc đường được nhận diện và tiếp nhận ngay, tránh chậm trễ công vụ.
Theo đó, từ phía Nam đến trạm Hòa Thuận, từ phía Bắc đến trạm Sơn Mai, tổng cộng 73 trạm, mỗi trạm được cấp hai lá cờ đuôi nheo. Riêng Bắc Thành (từ thành lỵ đến trạm Sơn Mai) và Nam Định (từ trấn lỵ đến trạm Ninh Đa) cũng được cấp ngựa và cờ đuôi nheo theo lệ chung của các trạm. Cờ trạm thêu chữ chỉ danh đơn vị, một mặt thêu chữ “Bắc Thành”, và đều thêu bốn chữ “Mã thượng phi đệ”. (Sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 63).
Quy định nêu rõ: từ nay, các công việc quan khẩn tại Kinh, hoặc các phi báo ở địa phương như tin quân sự, báo thắng trận, bắt được tướng giặc hay kẻ phạm tội trọng yếu, đều phải đệ trình bằng ngựa; trong trát phải ghi rõ bốn chữ “Mã thượng phi đệ”. Khi các trạm tiếp nhận, phải lập tức cắm cờ lên ngựa và phi đệ tiếp, truyền đi liên tục giữa các trạm. Trường hợp vi phạm sẽ bị xử phạt nghiêm khắc.
5. Ngựa dùng trong luyện tập sức khoẻ:
Dưới triều Nguyễn, việc cưỡi ngựa không chỉ gắn với quân sự mà còn được nhìn nhận như một phương thức rèn luyện sức khỏe. Năm Minh Mệnh thứ 11 (1830), vua từng nói với Nội các Trương Đăng Quế rằng khi còn trẻ, mỗi lần cưỡi ngựa đều cảm thấy gân cốt khoan khoái, thân thể cường kiện. Nhà vua tự nhận do lâu ngày không cưỡi nên thân thể kém nhanh nhẹn hơn trước, từ đó rút ra kinh nghiệm phải thường xuyên vận động. Vì vậy, Minh Mệnh đặt lệ mỗi tháng cưỡi ngựa một lần để tránh sinh thói lười nhác. Qua lời dụ này, cưỡi ngựa được xem như một hình thức tập luyện sức khoẻ gắn với kỷ luật tự thân. Quan niệm ấy phản ánh tư tưởng trị thân của bậc quân vương: coi siêng năng, rèn luyện thể chất là nền tảng để đảm đương việc nước.
“Vua bảo Nội các Trương Đăng Quế rằng : “Ngươi có giỏi cưỡi ngựa không? Trẫm khi trẻ tuổi vốn hay cưỡi ngựa, cứ mỗi lần cưỡi ngựa thì thấy gân sức khoan khoái. Lâu nay không ngồi yên ngựa, thịt đùi lại nở ra bây giờ cưỡi ngựa không nhanh nhẹn bằng lúc tuổi trẻ nữa. Cho nên mỗi tháng một lần cưỡi ngựa để cho khỏi lười biếng. Người quý ở siêng năng chịu khó, nếu cứ rỗi rãi yên vui thì gân sức yếu đi, khi gặp việc còn làm gì được”. (Sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 70).
6. Những loài ngựa quý được biết đến trong sử sách
Các nguồn chính sử cho thấy triều đình phong kiến Việt Nam đặc biệt coi trọng những loài ngựa quý, hiếm, xem đó là vật phẩm thượng hạng dùng trong quân sự, nghi lễ và tiến cống. Sử sách nhiều lần nhắc đến ngựa trắng và ngựa hồng có cựa, được coi là linh dị, tượng trưng cho điềm lành và sức mạnh phi thường. Đặc biệt, có ghi nhận về ngựa trắng bờm đen, bốn chân đều có cựa, loại ngựa hiếm, thường được dâng lên vua hoặc dùng trong những sự việc trọng đại. Một số tư liệu còn chép về ngựa màu hoa đào, đầu xanh, bốn chân mọc sáu cựa (hai chân trước mỗi chân một cựa, hai chân sau mỗi chân hai cựa), được xem là giống ngựa dị thường, mang ý nghĩa cát tường. Ngoài ra, ngựa nê thông – loại ngựa có bộ lông trắng đen xen kẽ như màu bùn – cũng được liệt vào hàng quý hiếm, thường xuất hiện trong các ghi chép về cống phẩm hoặc tuyển chọn ngựa tốt cho triều đình. Những mô tả này phản ánh quan niệm truyền thống của người Việt: ngựa quý không chỉ mạnh về thể chất mà còn mang giá trị biểu tượng, gắn với thiên mệnh, uy quyền và trật tự chính trị của vương triều.
Tiểu kết:
Từ việc khảo cứu các nguồn chính sử là tài liệu lưu trữ, có thể khẳng định rằng loài ngựa giữ một vị trí đặc biệt và xuyên suốt trong tâm thức người Việt, vừa là phương tiện thực tiễn, vừa là biểu tượng văn hóa – tinh thần. Ngựa hiện diện đồng thời trong huyền thoại dựng nước, chiến trận giữ nước, nghi lễ triều đình, đời sống tín ngưỡng và tổ chức hành chính, phản ánh mối quan hệ gắn bó lâu dài giữa con người và loài vật này. Qua các triều đại, ngựa không chỉ phục vụ chiến tranh, ngoại giao và truyền tin, mà còn được chuẩn hóa trong lễ nghi, luật lệ và quan niệm trị thân của bậc quân vương. Sự tôn vinh ngựa trong đền miếu, lăng tẩm, lễ hội và điển chế cho thấy ngựa đã vượt khỏi vai trò công cụ để trở thành biểu trưng của sức mạnh, trung thành, kỷ cương và tinh thần trách nhiệm. Chính chiều sâu đó đã làm nên sức sống bền bỉ của hình tượng con ngựa trong di sản văn hóa Việt Nam. Việc nhận diện và hệ thống hóa những tư liệu này không chỉ góp phần làm rõ giá trị lịch sử – văn hóa của loài ngựa, mà còn giúp hiểu sâu hơn về cách người Việt kiến tạo trật tự xã hội và thế giới biểu tượng của mình qua thời gian.
Tài liệu tham khảo:
1. Hồ sơ H1.1/2; H1.1/5; H1.1/6; H1.1/7 sách Đại Việt sử ký toàn thư bản kỷ, quyển 2,5,6,7 – Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV.
2. Hồ sơ H2.2/10; H2.2/25; H2.2/30 sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển 10,25,30 – Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV.
3. Hồ sơ H4.3/20; H4.3/65 sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 20, 65 – Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV.

Khánh Vy