Trong lịch sử quân sự Triều Nguyễn, đặc biệt là dưới triều vua Tự Đức, các hoạt động diễn tập quân chính luôn giữ một vị trí hết sức quan trọng, không chỉ nhằm rèn luyện kỹ năng chiến đấu cho các binh sĩ mà còn thể hiện uy nghiêm của triều đình và tinh thần thượng võ của quốc gia. Trong đó, cuộc diễn tập với ngựa luôn là nội dung được triều đình quan tâm và được tổ chức định kỳ. Qua Mộc bản Triều Nguyễn – Di sản Tư liệu thế giới, cùng tìm hiểu về một buổi diễn tập trận ngựa vào năm Tân Hợi (1851).

Hình ảnh con Ngựa được khắc trên Cửu đỉnh của Triều Nguyễn. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV

Công tác chuẩn bị cho buổi diễn tập với ngựa

Dưới triều vua Tự Đức, ngựa không chỉ là phương tiện cơ động nhanh khắp các chiến địa mà còn là biểu tượng của sức mạnh, tốc độ và uy quyền. Việc “chuẩn định lệ diễn tập trận ngựa” cho thấy triều đình đặc biệt coi trọng việc huấn luyện kỵ binh nhằm kiểm tra kỹ năng của binh sĩ, sự phối hợp nhịp nhàng giữa người, ngựa, khí giới và hiệu lệnh. Như vua Minh Mạng đã từng nói: “Theo từng kỳ thao diễn, cốt khiến cho người và ngựa đều được tập luyện quen thuộc”.

Để chuẩn bị cho buổi diễn tập với ngựa được diễn ra thuận lợi, trước đó, vua Tự Đức đã mệnh cho viện Thượng Tứ – cơ quan có nhiệm vụ “Quản lý công việc các tàu ngựa nhà vua. Phàm các việc nên dùng ngựa để cung ứng túc trực hay hỗ tòng xa giá đều giao cho viện Thượng tứ” phải chuẩn bị nhân lực cũng như vật lực được đầy đủ, kỹ càng. Về việc này, Mộc bản sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 175, mặt khắc 20, 21 còn ghi rõ: “Trước kỳ tập, phái ở viện Thượng Tứ ra 12 người suất đội, hơn 200 lính hơn 100 con ngựa”.

Bên cạnh đó, hệ thống cờ xí cũng được bày biện cẩn thận, bao gồm “1 ngọn cờ ngũ hành, 1 ngọn cờ phó vệ, 20 ngọn cờ suất đội, 1 ngọn cờ hiệu”. Ngoài ra, còn có hệ thống vũ khí đa dạng: 80 khẩu súng nhỏ gắn trên mình ngựa, 80 thanh mã đao, 26 thanh dao cờ, 240 ngọn lao có mũi sắt nhọn ở đầu.

Mộc bản sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 175, mặt khắc 20 ghi về công tác chuẩn bị cho buổi diễn tập trận ngựa dưới triều vua Tự Đức. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV

Đặc biệt, các dụng cụ âm thanh cũng đều được chuẩn bị đầy đủ như: “01 cái loa bằng thau, 01 cái kiểng bằng đồng, 1 cái tù và, 1 cái trống trận, chiêng đồng, thanh la đồng mỗi thứ 1 cái”. Và mỗi tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng tù và đều mang một ý nghĩa nhất định, yêu cầu binh sĩ phải ghi nhớ và phản xạ chính xác.

Đặc biệt không thể không nhắc đến các “đạo cụ” của buổi thao diễn là cây chuối và hình người kết bằng rơm. Đây là những mục tiêu giả định, giúp binh sĩ thực hành phóng lao, bắn súng và chém dao trong điều kiện gần với chiến trận thực tế, nhưng vẫn đảm bảo an toàn.

Buổi thao diễn ngựa

Đến kỳ thao diễn, triều đình phái một viên đại thần ban võ, mang theo binh lính và ngựa đến giáo trường ở ngoài thành vâng mệnh thao diễn. Việc chọn địa điểm ngoài thành vừa đảm bảo không gian rộng rãi, vừa tránh ảnh hưởng đến sinh hoạt trong kinh thành.

Cuộc diễn tập mở đầu bằng việc tập hiệp trận (trận đánh kẹp), tiếp đến là trực trận (trận đánh thẳng) và cuối cùng là nhạn trận (trận đánh ngang). Đây là ba thế trận cơ bản trong nghệ thuật quân sự cổ truyền. Trước khi vào buổi thao diễn chính thức, binh lính và ngựa sẽ được bày thành đồn. Hai bên tả, hữu của mặt đường đều được trồng cây chuối và kết dựng các hình người kết bằng rơm, mỗi thứ cách nhau ba trượng. Không gian diễn tập vì thế được bố trí như một chiến trường giả định, với chướng ngại vật và mục tiêu rõ ràng.

Khi quan tư lệnh thổi ba hồi tù và, toàn bộ kỵ binh lập tức nhảy lên ngựa. Mỗi động tác đều được quy định bằng hiệu lệnh cụ thể. Điều này đòi hỏi binh sĩ phải luyện tập thường xuyên để hình thành phản xạ chính xác. Về việc thao diễn 3 trận đánh hiệp trận, trực trận và nhạn trận được Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ tứ kỷ, quyển 7, mặt khắc 7, 8 vẫn còn ghi khá chi tiết rằng: “Về phép diễn tập, trước hết đem lính và ngựa bày thành đồn; lại ở bên tả, bên hữu trên mặt đường đều liệu lượng trồng các cây chuối; lại ở phía tả, phía hữu bên đường đều kết dựng các hình người bằng rơm, mỗi thứ cũng đều cách 3 trượng cả. Phái 1 viên Quản vệ ra làm quan tư lệnh, thổi 3 hồi tù và, thì những người cưỡi ngựa đều nhảy lên cật ngựa. Điểm 1 tiếng trống, thì tuốt dao ra khỏi vỏ; điểm 2 tiếng trống, thì dao cờ đều cắm lên. Điểm 1 tiếng trống, thì mặt hướng về cửa đồn. Trống đánh 3 tiếng thì đi thẳng hàng chữ nhất. Thanh la đánh 5 tiếng, thì dồn thành hàng ngũ. Lại đánh 1 tiếng thì vác cờ lên, 2 tiếng đều dạ cả, cờ đều hạ xuống. Nghe lệnh kiểng thì theo y phép tập bắn súng trên mình ngựa 2 phát; điểm 2 tiếng trống thì nộp lại súng nhỏ trên mình ngựa, lại tuốt dao ra khỏi vỏ. Trống điểm 1 tiếng, dao cờ đều giơ lên, trống điểm 3 tiếng thì dạ, điểm 1 tiếng thì từ từ tiến lên. Trống điểm 6 tiếng, thì cưỡi ngựa hò hét tiến lên đuổi, điểm 2 tiếng thì đứng dừng lại. Trống đánh 3 hồi thì thu quân. Thanh la đánh 1 tiếng thì quay đầu ngựa lại, trống điểm 3 tiếng thì từ từ trở về trận cũ. Trống điểm 2 tiếng liền nhau thì cưỡi ngựa nghiêm chỉnh. Thanh la đánh 1 tiếng thì mặt lại hướng về phía trước; lại đánh 1 tiếng nữa thì cuốn cờ, đánh tiếng nữa thì vác cờ lên, đánh 1 tiếng nữa thì cắm cờ xuống.

 Diễn xong hiệp trận, rồi bày trực trận, nhạn trận. Về nghi tiết đánh chiêng, đánh trống, tiến lên, dừng lại, đại lược cũng như nhau; tựu trung mỗi trận đều có gặp địch ở phía trước hay ở bên tả, ở bên hữu và về thế trận bày ra trong đó có hơi khác, nhưng mỗi trận đều nhồi thuốc, mã tải vào súng ở trên cật ngựa cả, thực hành bắn ra 3 phát cần phải tiếng súng đều 1 loạt, không được tiếng trước tiếng sau xê xích mất thứ tự”.

Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ tứ kỷ, quyển 7, mặt khắc 7, 8 ghi về phép diễn tập trận ngựa dưới triều vua Tự Đức. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV

Sau khi hoàn thành ba trận chính, cuộc diễn tập chuyển sang nội dung phóng lao và múa gươm. Đây cũng là phần thể hiện rõ kỹ năng cá nhân nhất của các kỵ binh. Theo hiệu lệnh thanh la, đội hình chia làm năm toán. Binh sĩ nộp lại súng, cầm lao có mũi sắt nhọn. Khi trống điểm, họ thúc ngựa tiến lên, phóng lao nhằm trúng hình người kết bằng rơm.

Tiếp đó là phần múa đao chém chuối. Binh sĩ cưỡi ngựa chạy nhanh, vung dao chém cây chuối sao cho “đứt hẳn” mới đạt yêu cầu. Đây là bài tập khó, đòi hỏi sự phối hợp hoàn hảo giữa tốc độ ngựa, sức tay và sự quan sát chính xác của người lính. Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ tứ kỷ, quyển 7, mặt khắc 8 còn ghi: “Khi diễn 3 trận xong, diễn phép phóng lao múa gươm: nghe thanh la đánh 1 tiếng thì mặt hướng về phía trước, thanh la đánh 5 tiếng, chia làm 5 toán. Trống điểm 2 tiếng, nộp lại súng nhỏ bắn trên mình ngựa, cầm lấy lao có mũi sắt nhọn. Thanh la đánh 3 tiếng: 1 tiếng thì mở cờ, 1 tiếng nữa thì vác cờ lên; 1 tiếng nữa, thì đều dạ, cắm cờ xuống. Trống điểm 3 tiếng thì dạ, trống điểm 1 tiếng xem hiệu cờ, kíp tiến ngựa lên phóng lao có mũi sắt nhọn, cần đâm trúng vào hình người kết bằng rơm làm mức. Phóng lao xong, lại trở về chỗ toán của mình. Trống điểm 2 tiếng, lại điểm 2 tiếng díp nhau, binh và ngựa chỉnh tề, tuốt dao ra khỏi vỏ. Trống điểm 1 tiếng giơ dao lên, trống điểm 3 tiếng thì dạ, điểm 1 tiếng, thì xem hiệu cờ, đều cưỡi ngựa cho chạy nhanh múa dao chém cây chuối, lấy chém đứt hẳn ra làm chuẩn đích”.

Sau khi hoàn thành các nội dung, binh lính sẽ thu quân, dồn thành hàng đội, rồi trở về chỗ cũ. Cờ xí được cuốn lại, vác lên rồi cắm xuống theo đúng nghi tiết. Cuối cùng, theo một hồi chiêng, đội hình bày thành đồn, đánh dấu kết thúc cuộc diễn tập.

Có thể nói, nghi thức thao diễn tập trận ngựa dưới triều vua Tự Đức là một bức tranh sinh động về một hệ thống quân chính được tổ chức chặt chẽ, nghiêm ngặt và mang đậm dấu ấn truyền thống. Từ công tác chuẩn bị cho đến trình tự từng động tác trong buổi diễn tập, cho thấy đây không chỉ là một cuộc thao diễn ngựa đơn thuần, mà còn là một nghi thức tổ chức quân đội, kỹ thuật tác chiến, và tư duy phòng thủ của nhà nước phong kiến cuối cùng ở Việt Nam./.

Tài liệu tham khảo:

1. Hồ sơ H20, Mộc bản triều Nguyễn – Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV;

2. Hồ sơ H21, Mộc bản triều Nguyễn – Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV;

3. Hồ sơ H22, Mộc bản triều Nguyễn – Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV;

4. Hồ sơ H23, Mộc bản triều Nguyễn – Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV;

5. Hồ sơ H24, Mộc bản triều Nguyễn – Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV;

6. Hồ sơ H48, Mộc bản triều Nguyễn – Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV.

Cao Quang