Nằm ở vùng Tây Bắc của Tổ quốc, tỉnh Điện Biên không chỉ nổi tiếng với  trận đánh Điện Biên Phủ trên không “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, mà còn mang trong mình một lịch sử lâu đời với danh xưng đầy ý nghĩa. Ít ai biết rằng tên gọi “Điện Biên” được hình thành từ những biến động chính trị, quân sự và công cuộc tổ chức lại vùng đất biên viễn thời phong kiến Việt Nam.

 
Bản đồ phủ Điện Biên (Nguồn: Sưu tầm)

1. Danh xưng Điện Biên

Theo các nguồn thư tịch cổ, đặc biệt là trong khối Mộc bản Triều Nguyễn – thì danh xưng “Điện Biên” được bắt đầu xuất hiện vào mùa hạ, tháng 5, năm Tân Sửu (1841), dưới triều vua Thiệu Trị. Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ tam kỷ, quyển 8, mặt khắc 20, 21 ghi chép sự việc kiện này rằng: “Bắt đầu đặt phủ Điện Biên thuộc tỉnh Hưng Hoá. Đem các châu Ninh Biên, Lai Châu, Tuần Giáo lệ thuộc vào phủ ấy. Châu Ninh Biên nguyên là đất của Ai Lao (tục gọi là Mường Thanh), khoảng năm Cảnh Hưng (1740 – 1786) nhà Lê, dân phản nghịch là Hoàng Công Thư làm loạn ở Hưng Hoá, chiếm giữ thành Tam Vạn (vì thành này chứa được 30.000 người cho nên gọi là Tam Vạn). Nhà Lê dẹp yên giặc Thư, mới chiêu dụ người Man ở Mường Nhuyên đất Mã Hà về quy thuận, đặt làm châu Ninh Biên, thuộc phủ Gia Hưng. Đất châu này ba mặt về mạn Đông, Tây, Nam tiếp liền với người Man Nam Chưởng, cách tỉnh thành đến 10 ngày đường, triều đình lập đồn bảo (Ninh Biên bảo) đặt quân lính (30 người) để đóng giữ”.

 

Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ tam kỷ, quyển 8, mặt khắc 20, 21 ghi về việc vua Thiệu Trị cho đặt phủ Điện Biên vào năm 1841

Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV
 

Dưới Triều Nguyễn, phủ Điện Biên lệ thuộc vào tỉnh Hưng Hóa, và ranh giới của phủ Điện Biên được sách Đại Nam nhất thống chí, quyển 22 biên chép như sau: “Phủ Điện Biên cách tỉnh thành 580 dặm về phía Tây, Đông Tây cách nhau 246 dặm, Nam Bắc cách nhau 513 dặm, Phía Đông đến địa giới châu Thuận 195 dặm, phía Tây đến địa giới nước Nam Chưởng 51 dặm, phía Nam đến địa giới huyện Trình Cố tỉnh Thanh Hóa 250 dặm, phía Bắc đến địa giới châu Quảng Lăng nước Thanh 263 dặm. Nguyên là đất của 2 phủ Gia Hưng và An Tây. Năm Thiệu Trị thứ nhất trích lấy các châu Ninh Biên, Tuần Giáo và Lai Châu đặt phủ này. Năm Tự Đức thứ 4 thứ 5 lại trích lấy 2 châu Quỳnh Nhai và Luân.. cho lệ này. Nay lãnh 5 châu”.

Như vậy, tính đến nay tên gọi Điện Biên đã xuất hiện tròn 185 năm lịch sử. Ít ai biết rằng, góp phần rất lớn cho việc ra đời tên gọi này là một vị quan nổi tiếng tài giỏi, thanh liêm, mẫn cán đó chính là Thượng thư bộ Hộ – Ngụy Khắc Tuần.

2.Ngụy Khắc Tuần – người khai sinh danh xưng Điện Biên

Ngụy Khắc Tuần có hiệu là Thiện Phủ, sinh năm 1799 tại xã Xuân Viên, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh (cùng quê với Đại thi hào Nguyễn Du). Mộc bản sách Quốc triều Đăng khoa lục, quyển 01, mặt khắc 3 có khắc ghi về nhà khoa bảng Ngụy Khắc Tuần như sau:

Ngụy Khắc Tuần 魏克循:
Sắc ban đệ Tam giáp (Đồng Tiến sĩ xuất thân)
(Nhiều đời đăng khoa; chú cháu cùng đăng khoa)
Sinh năm: Kỷ Mùi (1799).
Quê quán: Xuân Viên, Nghi Xuân, Nghệ An. (Nghi Xuân từ đây thuộc Hà Tĩnh. Dưới đây, chỗ nào chép Nghi Xuân thì đều hiểu như vậy).
Đỗ Cử nhân khoa thi năm Tân Tỵ (1821).
Đỗ Đồng Tiến sĩ xuất thân năm 28 tuổi.
Làm quan trải qua các chức: Tổng đốc, Tuần phủ, sau đổi sang chức Thượng thư bộ Hộ, được ban tặng hàm Hiệp biện Đại học sĩ. Ông nổi tiếng là người thanh liêm, mẫn cán, được vua yêu quý, cho hằng ngày được yết kiến. Khi ông về giữ chức ở Sơn Hưng Tuyên, được vua ban thơ khen tặng… Ông là chú của Thám hoa Ngụy Khắc Đản; em của Cử nhân Ngụy Khắc Thận; anh của Cử nhân Ngụy Khắc Thành”.

 
Mộc bản sách Quốc triều Đăng khoa lục, quyển 01, mặt khắc 3 khắc ghi về nhà khoa bảng Ngụy Khắc Tuần

Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV

 Ông làm quan trải qua ba đời vua đó là Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức và rất được tin dùng. Dưới triều vua Thiệu Trị, vào năm Tân Sửu (1841), trước tình hình biên thùy phía Bắc thường xuyên có những bọn “giặc cỏ” nổi lên cướp phá, vị vua thứ 3 của Triều Nguyễn đã mệnh sai Ngụy Khắc Tuần giữ chức Bố chính tỉnh Sơn Tây – Hưng Hóa (bao gồm cả phần lớn diện tích các tỉnh Tây Bắc hiện nay, trong đó có tỉnh Điện Biên). Được vua Thiệu Trị ban chiếu chuẩn y, sau hơn nửa năm tuần thú, nhận thấy vùng đất này hiểm trở, thưa dân, nhưng lại không có các thành lũy bố phòng để chống lại những cuộc xâm lăng của ngoại bang; cuối năm 1841, quan Bố chính Ngụy Khắc Tuần dâng sớ về kinh, tấu trình lên vua về việc kiến đặt tên cho vùng đất này là “Điện Biên”. Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ tam kỷ, quyển 8, mặt khắc 22, 23 ghi chép lời xin của Ngụy Khắc Tuần như sau: “Tháng trước, Nam Chưởng quấy nhiễu nơi biên giới. Vua truyền cho Nguỵ Khắc Tuần phải xét kỹ tình hình nơi biên giới, trù tính nên làm công việc thế nào cho sau này được yên. Tuần dâng sớ tâu: “Châu Ninh Biên thuộc về cõi đất của triều đình đã lâu, không phải mới có một vài ngày, chỉ vì Nam Chưởng vẫn nhận là đất cũ của họ, nên cứ tìm cớ để gây hấn… Nếu đem binh dõng đến để giữ thì đường đất xa, lam chướng độc, tiếp tế khó khăn, không thể nối tiếp được mãi. Không gì bằng mộ dân đến ở đấy cho đông, để họ tự giữ lấy, thì số binh có thể giảm bớt, sự khó nhọc phí tổn cũng đỡ, mới là kế dài lâu. Vậy xin ở địa đầu chỗ làm đồn bảo của châu khi  trước, đặt một phủ lỵ, gọi là phủ Điện Biên, kiêm lý cả châu Ninh Biên, lấy hai châu Lai Châu và Tuần Giáo ở gần đấy thêm vào làm thống hạt, đặt một tri phủ và một quản phủ…”.

Sau khi xem xong sớ tâu, vua Thiệu Trị giao xuống cho bộ Hộ và bộ Binh bàn kỹ. Hai Bộ đều cho rằng tập tâu của Ngụy Khắc Tuần là một ý kiến hay để phòng giữ nơi biên giới và cuối cùng vua Thiệu Trị đã ban dụ đồng ý cho Ngụy Khắc Tuần thành lập phủ Điện Biên.

 Sau này, khi đến kỳ khảo hạch, xét công 3 năm một lần để ban thưởng cho những vị quan xuất sắc. Bộ Binh và bộ Lại đã dâng danh sách kê sự trạng của các quan, trong đó có Ngụy Khắc Tuần lên vua. Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ tam kỷ, quyển 12, mặt khắc 19 có ghi chép lời dụ của vua: “Bố chính Hưng Hoá, Nguỵ Khắc Tuần, vỗ yên và chiêu tập dân ở nơi biên giới, mở thành 1 phủ (tức phủ Điện Biên), ban đầu biết kiến nghị, sau làm được thành hiệu. Chuẩn cho giao xuống để bộ bàn công”.

Có thể nói, Nguỵ Khắc Tuần không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành vùng đất này mà còn để lại dấu ấn sâu đậm qua việc định danh một phủ quan trọng. Hai chữ Điện Biên mang ý nghĩa “thành trì vững chắc nơi biên cương”, thể hiện khát vọng giữ gìn cõi bờ đất nước. 185 năm đã trôi qua, từ đồn Ninh Biên, Ngụy Khắc Tuần đã chấp cánh cho một mảnh đất giàu truyền thống quật cường, anh dũng và cũng rất đỗi tươi đẹp./.

Tài liệu tham khảo:

1. Quốc sử quán Triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Nxb Khoa học xã hội, năm 2004;

2. Hồ sơ H21/23, Mộc bản triều Nguyễn – Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV;

3. Hồ sơ H22/11, Mộc bản triều Nguyễn – Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV;

4. Hồ sơ H24/16, Mộc bản triều Nguyễn – Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV.

Cao Quang