
Ảnh Kinh thành Huế, Nguồn: Sưu tầm
Cung Khánh Ninh là một công trình kiến trúc quan trọng được xây dựng dưới thời vua Minh Mệnh. Không chỉ mang giá trị kiến trúc cung đình đặc sắc, công trình còn hàm chứa những ý nghĩa sâu sắc về chính trị, nghi lễ và tư tưởng, đặc biệt là dấu ấn hiếu đạo. Thông qua các ghi chép trong Mộc bản sách Đại Nam thực lục và Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đại Nam nhất thống chí, quá trình xây dựng, tu sửa cũng như vai trò của cung Khánh Ninh được tái hiện một cách rõ nét.
Cung được khởi dựng vào năm Minh Mệnh thứ 6 (1825), tọa lạc phía ở phía bắc sông Ngự Hà trong Kinh thành. Ngay từ đầu, công trình đã được quy hoạch với quy mô khá hoàn chỉnh, gồm tiền đường và hậu đường hợp thành một tòa, cùng hệ thống tả vu, hữu vu, hành lang, cửa lầu, bình phong và nhiều hạng mục phụ khác. Đáng chú ý, một phần vật liệu xây dựng được tận dụng từ điện Thanh Hòa. Không gian phía trước cung còn được bố trí thêm nhà mát ven sông, cầu đá Khánh Ninh và nhà bia, tạo nên sự hài hòa giữa kiến trúc và cảnh quan thiên nhiên.

Mộc bản sách Đại Nam thực lục ghi chép về việc Vua Minh Mệnh cho xây dựng
cung Khánh Ninh năm 1825, Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV
Quá trình xây dựng cung Khánh Ninh có sự tham gia của cả binh lính và nhân dân, với chế độ trả công minh bạch bằng tiền hoặc kết hợp tiền và gạo. Sau khi hoàn thành, những người phụ trách đều được ban thưởng một thứ kỷ lục. Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ chép: “Sai Vệ uý Thị trung là Lê Văn Quý, phó vệ úy là Trần Văn Lộc trông nom công việc. Binh và dân có người chở đá núi nộp quan thì theo giá trả tiền (Một đống đá chở đến cầu Ngự Hà 20 quan tiền, đến cung Khánh Ninh trả 25 quan. Binh lính thì trả bằng tiền cả; nhân dân trả nửa tiền nửa gạo). Khi làm xong, thưởng cho bọn Quý mỗi người 1 thứ kỷ lục”.
Về phương diện kiến trúc, cung Khánh Ninh là một tổ hợp kiến trúc quy mô lớn, bao gồm cửa cung, sân, chính điện và các công trình phụ trợ. Sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 207 chép: “Cung ở phía Bắc sông Ngự, chính giữa phía trước tường cung là cửa cung, hướng nam 3 gian 3 cửa, tầng lầu ở gian giữa lợp bằng ngói lưu ly vàng, góc treo nhạc, nền gạch lưu ly, thềm đá, bệ đá, bên nam bên bắc đều 3 bệ, bệ có 4 bậc, lan can chạm con rồng con cầu, phía trước mặt một lò đốt lửa bằng đồng. Phía nam kề sông ngự, làm ba nếp đình hóng mát, bên tả bên hữu xây lan can bằng gạch.
Chính giữa bên trong cửa cung là điện Hiếu Tư, hướng nam, chính điện 5 gian, tiền điện, hậu điện đều 7 gian, chồng xà chồng mái, đầu đao mép rồng vẩy lên, mái tráng men sứ, nóc lợp ngói lưu ly vàng, phía trước, phía sau làm cửa khuếch phanh, mặt trước sơn son, thếp và trang sức bằng vàng bạc, nền gạch lưu ly, giữa lát ván đất, lỗ thông giăng lưới sắt, thềm bệ bằng đá, lan can chạm con rồng con cầu; bên nam 3 bệ, bệ có 3 bậc, bên đông bên tây đều 2 bệ, bệ có 5 bậc; bệ ở gian giữa có 3 lối ra, còn đều một lối ra, sân lát gạch sắt. Trước sân có điện thờ phụ ở phía đông phía tây, mỗi điện 5 gian lợp ngói lưu ly xanh. Bên tả bên hữu tường cung đều mở một cửa hướng đông và hướng tây, cửa đều treo nhạc, trong cửa đều xây một bình phong, phía bắc bình phong xây tường ngăn, từ bên tả bên hữu điện chính cho liền đến tường cung. Phía đông, phía tây tường ngăn cũng đều mở một cửa, đều hướng nam. Phía bắc tường ngăn là đông tây. Lại về phía bắc xây tường ngăn, chính giữa là cửa, 3 gian 3 cửa, hướng bắc; trước cửa ra nẻo đông tường cung là cửa Đông Hòa, ra nẻo tây tường cung là cửa Tây Thuận. Lại phía bắc là viện phụ bên tả bên hữu.
Mặt tả mặt hữu, mặt sau ngoài tường cung đều xây lần tường thấp, mở 6 cửa, về phía đông tường thấp bên tả là cửa Du Ninh, cửa Thái Ninh; phía đông nam là cửa phường Nhị Ninh, đều hướng đông; về phía tây nam tường thấp bên hữu là cửa phường Khánh Trạch, hướng Tây. Phía đông bắc tường sau là cửa phường Nghệ Ninh; phía tây là cửa phường Khánh Thành, đều hướng Bắc. Lại ở bờ bên nam sông Ngự, bên đông là cửa phường Hàm Ninh, hướng đông, bên tây là cửa phường Khánh Tường, hướng tây. Lại cầu đá ở phía đông trước cung sang qua sông Ngự gọi là cầu Khánh Ninh.”

Mộc bản sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ ghi chép về kiến trúc của cung Khánh Ninh, Nguồn: Trung tâm lưu trữ quốc gia IV
Những mô tả chi tiết này cho thấy sự tinh xảo, tỉ mỉ và quy củ của kiến trúc cung Khánh Ninh. Từ mái ngói lưu ly vàng, lan can chạm rồng đến hệ thống thềm bệ, sân gạch và các điện phụ, tất cả tạo nên một tổng thể kiến trúc vừa uy nghi, vừa hài hòa, đáp ứng đầy đủ yêu cầu về nghi lễ và thẩm mỹ.
Không chỉ mang giá trị về mặt kiến trúc, cung Khánh Ninh còn thể hiện tầm nhìn chiến lược của vua Minh Mệnh. Năm Minh Mệnh thứ 8 (1827), khi đến thăm cung, nhà vua đã bày tỏ rõ dụng ý xây dựng công trình này là để “tính kế lâu dài cho con cháu”, giống như Hoàng khảo ta làm điện Hoàng Nhân.
Đến thời vua Thiệu Trị, vai trò của cung Khánh Ninh có sự thay đổi quan trọng. Năm 1841, sau khi vua Minh Mệnh băng hà, cung được chọn làm nơi đặt tử cung (chỉ quan tài vua chúa) của Đại hành Hoàng đế. Nên triều đình đã tiến hành sửa chữa toàn diện, xây dựng thêm tiền điện và cải tạo các khu vực phụ trợ. Các viện Lý Thuận và Đoan Trang được dỡ và dời về phía sau, hình thành hệ thống tòng viện dành cho cung nhân triều trước.

Mộc bản sách Đại Nam thực lục ghi chép về việc Vua Thiệu Trị chọn cung Khánh Ninh làm nơi đặt tử cung của Đại hành Hoàng đế, Nguồn: Trung tâm lưu trữ quốc gia IV
Đặc biệt, chính điện của cung được đặt tên là điện Hiếu Tư, thể hiện rõ tư tưởng đề cao hiếu đạo. Đây không chỉ là nơi cử hành tang lễ mà còn trở thành không gian thờ phụng lâu dài. Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ tam kỷ, quyển 1 chép: “Quy chế về cung điện của cổ nhân, cung là tên gọi chung cả; trong cung lại có điện, điện thì treo biển vào cột, cung thì treo biển ở cửa, là cốt để phân biệt bên ngoài bên trong, mà nghiêm túc sự quan chiêm vậy. Cung, điện Khánh Ninh do hoàng khảo ta làm sẵn để làm nơi chí kế muôn năm. Cung thì đã có biển cũ rồi, còn điện thì chưa có biển. Nay ta kính tuân mệnh lệnh khi còn tỉnh, đặt bàn thờ ở điện ấy, tinh linh lên xuống, khói hương nghi ngút ở chỗ ấy, tấm lòng hiếu thảo, thương nhớ không cùng cũng ở chỗ ấy. Nay nên tôn điện này tên là điện Hiếu Tư, lấy nghĩa là lòng hiếu phải bền mãi, để làm khuôn phép cho đời sau. Bộ thần theo đúng mẫu, làm tấm biển đem treo ở chính giữa điện, và dời cái biển cũ ra treo ở ngoài cửa cung.”
Vào năm Tự Đức thứ 3 (1850), nhà vua cho sửa chữa chính điện, tiền điện, tả hữu phối điện và các tòa cửa cung, đình hóng mát ở điện Hiếu Tư.
Cung Khánh Ninh không chỉ là một công trình kiến trúc cung đình mang vẻ đẹp tinh xảo của Triều Nguyễn, mà còn là nơi gửi gắm tư tưởng, nghi lễ và tinh thần hiếu đạo của một vương triều. Qua những ghi chép còn lưu giữ trên tài liệu Mộc bản triều Nguyễn, công trình hiện lên không chỉ với quy mô bề thế mà còn mang ý nghĩa lịch sử và văn hóa sâu sắc. Những giá trị ấy đã góp phần làm nên vị thế đặc biệt của cung Khánh Ninh trong hệ thống kiến trúc Kinh thành Huế./.
Tài liệu tham khảo:
1. Quốc sử quán Triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Nxb Khoa học xã hội, năm 2004;
2. Nội các Triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Nxb Thuận Hóa, năm 2004;
3. Hồ sơ H22/34, Mộc bản Triều Nguyễn – Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV;
4. Hồ sơ H23/2, Mộc bản Triều Nguyễn – Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV;
5. Hồ sơ H48/207, Mộc bản Triều Nguyễn – Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV.
Bùi Thị Mai