Trong dòng chảy lịch sử dân tộc, triều Nguyễn – triều đại quân chủ cuối cùng của Việt Nam đã hình thành lên một hệ thống nghi lễ cung đình phong phú, kết tinh từ tư tưởng Nho giáo, tín ngưỡng và truyền thống Tết cổ truyền của người Việt. Mỗi nghi lễ, từ Lễ Phong ấn, Lễ Tuế trừ, Lễ Trừ tịch đến Lễ Thượng tiêu, Lễ Nghênh xuân và Lễ Tiến xuân, đều được xây dựng bằng sự trang nghiêm, quy củ, vừa phục vụ công việc triều chính, vừa phản ánh đời sống tinh thần sâu sắc của một quốc gia trọng lễ nghĩa.
Những nghi thức ấy không chỉ là nghi lễ của triều đình mà còn là biểu tượng của thời khắc chuyển mùa, của quan niệm “thiên – địa – nhân” hòa hợp, của khát vọng quốc thái dân an, mùa màng tốt tươi. Khi lúc ấn tín được niêm phong, và tiếng pháo đầu xuân ngân vọng, là lúc nhà vua đích thân hành cử lễ Tuế trừ trong đêm giao thừa, cả hoàng cung hòa chung nhịp đập với đời sống dân gian, tạo nên một không gian văn hóa Tết vừa uy nghiêm, vừa gần gũi. Đó chính là một phần di sản quý báu làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam qua nhiều thế kỷ.

Nghi Lễ dưới triều Nguyễn (Ảnh: Sưu tầm)
1. Lễ Phong ấn dưới triều Nguyễn là nghi lễ quan trọng được cử hành vào cuối năm, khi triều đình tạm kết thúc mọi công việc hành chính để bước vào kỳ nghỉ Tết. “Phong ấn” nghĩa là niêm phong ấn tín – biểu tượng quyền lực của nhà vua và bộ máy quan lại. Khi ấn được phong lại, mọi hoạt động công vụ xem như dừng, báo hiệu năm cũ đã hoàn tất để chuẩn bị đón năm mới.
Dưới triều Nguyễn, Lễ Phong ấn là nghi lễ trang trọng diễn ra vào những ngày cuối năm, đánh dấu thời khắc triều đình chính thức khép lại công việc cũ. Trong nghi lễ này, các ấn tín – biểu tượng tối thượng của quyền lực và trách nhiệm – được làm lễ, lau chùi, bọc lót và niêm phong cẩn mật. Hành động phong ấn vừa thể hiện sự tôn nghiêm đối với quốc ấn, vừa thể hiện tinh thần cẩn trọng, minh bạch trong quản lý quốc gia.
Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, quyển 19 đã chép: Ngay sau khi lên ngôi vào năm Nhâm tuất (1802), vị vua đầu triều Nguyễn đã định ra việc phong ấn như sau: “Ngày Nhâm tuất phong ấn mỗi năm lấy ngày 25 tháng chạp thì phong ấn (cất ấn, nghỉ việc quan), sang năm chọn ngày tốt vào thượng tuần tháng giêng khai ấn…”
Bản dập Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, quyển 19, mặt khắc 18 ghi chép về việc phong ấn dưới thời vua Gia Long. Nguồn: TTLTQGIV
Trong thời gian phong ấn để nghỉ tết, các ấn đều được niêm phong cất kỹ, công văn giấy tờ bình thường đều chờ đến ngày khai ấn mới đóng ấn triện. Theo quy định ban hành cuối năm Minh Mạng thứ 4 (1823), phàm giấy tờ của các nha môn đáng phải làm mà trong năm chưa làm xong đều phải làm sớ xin hoãn đến sang năm mới, sau ngày khai ấn mới tiếp tục làm.
Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, quyển 24 ghi chép: “Phàm các giấy tờ của các nha tuân lời nghị phải làm mà trong năm chưa làm xong, đều làm sớ xin hoãn đến sang năm, sau ngày khai ấn sẽ làm dần.”
Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, quyển 64 đã chép: “Chuẩn định, từ nay trở đi phàm quan binh thăng bổ ra làm quan ngoài mà nhận được chỉ vào sau ngày phong ấn, nếu nói thăng bổ có việc quan hệ khẩn cấp thì cho do bộ tâu xin, cho đi nhận chức ngay, còn thì đều cho lưu lại đến tiết Nguyên đán theo ban vào chầu mừng chờ đến sau ngày khai ấn mới đi. Ghi làm lệ mãi mãi.”
Lễ Phong ấn không chỉ có ý nghĩa hành chính mà còn mang màu sắc văn hóa – tâm linh, gửi gắm mong ước một năm mới hanh thông, quốc thái dân an. Nghi lễ này cho thấy sự chu đáo và quy củ của triều Nguyễn trong việc điều hành đất nước, đồng thời phản ánh nét đẹp truyền thống “tống cựu nghinh tân” của dân tộc Việt Nam.
2. Lễ Nghinh xuân – Lễ Tiến xuân
Lễ “Nghinh xuân” nghĩa là đón xuân. Nghi lễ này thường được cử hành vào thời điểm lập xuân hoặc những ngày giáp Tết, khi triều đình long trọng tổ chức việc nghênh tiếp khí xuân – biểu tượng của sự sinh sôi, khởi đầu và cát tường. Trong nghi lễ, các quan Bộ Lễ chuẩn bị lễ vật dâng cúng tại đàn Xã Tắc hoặc các miếu thờ, thay mặt vua kính cáo trời đất, thành hoàng và tổ tiên triều Nguyễn. Mục đích là cầu cho năm mới thuận hòa, quân quốc thịnh vượng, dân an vật thịnh.
Lễ “Tiến xuân” là nghi thức dâng xuân lên nhà vua, thể hiện qua việc các quan dâng biểu tấu báo hiệu khí xuân đã đến, cùng lễ vật tượng trưng cho mùa xuân như lúa mới, ngũ cốc, hoa trái. Nghi lễ này biểu trưng cho việc đưa mùa xuân vào triều chính, nhắc nhở vua mở đầu năm mới bằng nhân đức, khoan hòa, chăm lo việc chính trị để đem lại phúc lợi cho muôn dân. Đây cũng được xem là nghi thức hàm chứa ý nghĩa khởi đầu chu kỳ trị quốc mới của hoàng triều.
Theo Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 57 ghi chép: “Bắt đầu làm lễ Nghinh xuân, Tiến xuân”: vào mùa xuân, đầu năm vua làm lễ đón xuân và tiến thần Câu mang, với con trâu đất, để cầu nguyện cho thời tiết được an lành, mùa màng được thuận lợi.

Bản dập Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, quyển 57, mặt khắc 1 ghi chép về Lễ Nghinh Xuân, Tiến xuân. Nguồn: TTLTQGIV
Hai lễ Nghênh xuân và Tiến xuân không chỉ nằm trong khuôn khổ nghi lễ cung đình mà còn phản ánh thế giới quan của người Việt truyền thống: Tôn trọng quy luật tự nhiên; đề cao sự hòa hợp giữa con người – thiên nhiên – vũ trụ; khẳng định vai trò của nhà vua trong việc điều hòa “thiên thời” để mang lại phúc lộc cho đất nước. Trải qua trăm năm, các nghi lễ này góp phần làm nên diện mạo độc đáo của văn hóa nghi lễ triều Nguyễn – một di sản đặc sắc của lịch sử Việt Nam.
3. Lễ Thượng tiêu (dựng cây nêu) là một trong những nghi thức đặc biệt đánh dấu sự chuyển giao giữa năm cũ với năm mới. Khi cây nêu ở điện Thái Hoà được dựng lên, là báo hiệu một năm mới đã cận kề.
Theo mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ tứ kỷ, quyển 56 ghi chép: “Chuẩn định lệ dựng nêu, hạ nêu. (Lệ trước: ngày 30 Tết trồng nêu, mồng 7 tháng giêng năm sau hạ nêu, đều cho Khâm thiên giám chọn giờ lành. Sau chuẩn cho đều lấy giờ Thìn làm nhất định).”
Theo mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ tứ kỷ, quyển 177 ghi chép: “Lễ dựng cây nêu, đều dùng hương nến, trầu rượu, lễ chính đán, thì gia thêm bánh chưng và phẩm, quả).”
Nghi lễ này thường được cử hành tại sân Đại Triều hoặc khu vực trước Điện Thái Hòa, có quan lại các bộ, vệ lính túc trực và nghi trượng theo quy định. Tiếng pháo nổ trong lễ Thượng tiêu vừa thể hiện sự vui tươi, vừa mang ý nghĩa tâm linh: xua đuổi điều xấu – gọi mời điều lành, đồng thời khẳng định sự khởi đầu hưng thịnh cho triều chính.
Nghi lễ này không chỉ phản ánh nét văn hóa Tết truyền thống của người Việt mà còn cho thấy sự trang nghiêm, chỉn chu của triều Nguyễn trong từng phép tắc đầu xuân. Lễ Thượng tiêu vì thế trở thành một dấu ấn đặc sắc của không gian Tết cung đình, mang đậm tinh thần “tống cựu nghinh tân”, mở đầu cho chuỗi lễ hội đầu năm của hoàng cung.
4. Lễ Tuế trừ
Dưới triều Nguyễn, Lễ Tuế trừ là một trong những nghi lễ trọng đại của quốc gia, đây là lễ nghi đánh dấu sự khép lại của năm cũ và mở ra năm mới, nơi triều đình long trọng thực hiện các nghi thức tống cựu – nghinh tân, dâng hương, dâng rượu và đọc chúc văn tại Thái Miếu hoặc các điện miếu quan trọng.
Theo mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ tam kỷ, quyển 53 ghi chép nghi lễ được diễn ra như sau: “Hằng năm, tháng chạp làm lễ “tuế trừ” (tháng đủ, vào ngày 30; tháng thiếu vào ngày 29); trước khi ấy, Tôn nhân phủ hội đồng với bộ Lễ dâng sớ xin cho hoàng tử, hoàng thân được sung kiêm việc tế, cứ theo lệ tư sang; đến ngày làm lễ, trống canh năm, sau khi bắn súng, hữu ty bày đặt cỗ bàn, vàng bạc, hương đèn, các hạng lễ phẩm ở các miếu đều đủ cả, biền binh thì bày hàng lỗ bộ, nghi trượng, nhã nhạc ở hai bên tả hữu trước sân miếu, hoàng tử, hoàng thân đều mặc áo thêu con mãng xà, chia đến các miếu đứng chờ làm lễ “tuế trừ” (tế một tuần rượu, không có văn khấn); lễ xong, hữu ty chiếu lệ, dựng nêu, hoàng tử, hoàng thân và lỗ bộ, nghi trượng, nhã nhạc, đều lui ra, đến chiều hôm ấy, vẫn theo lệ làm lễ “trừ tịch”.”
Lễ Tuế trừ không chỉ thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, tưởng niệm tổ tiên, mà còn khẳng định vai trò của nhà vua trong việc hài hòa âm – dương, cầu cho quốc thái dân an, thiên hạ thái bình, mùa màng tươi tốt. Dưới ánh đuốc và tiếng trống lệnh giao hòa đất trời, Lễ Tuế trừ trở thành khoảnh khắc thiêng liêng gắn kết cộng đồng, phản ánh sâu sắc truyền thống trọng lễ nghĩa, trọng hòa bình và nhân văn của dân tộc Việt Nam.
5. Lễ Trừ tịch
Đây là nghi lễ được cử hành vào đêm Giao thừa – thời khắc kết thúc năm cũ và bước sang năm mới theo lịch âm. Đây là thời điểm con người tưởng nhớ tổ tiên, dâng lễ tạ ơn trời đất và thực hiện các nghi thức trừ bỏ uế khí, đón điều tốt lành. Trong truyền thống cung đình và dân gian Việt Nam, đặc biệt dưới triều Nguyễn, Lễ Trừ tịch mang ý nghĩa xua đuổi điều xấu của năm cũ, tẩy trừ tai ương, đồng thời đón nhận phúc lành, bình an cho năm mới.
Theo mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ tam kỷ, quyển 33 ghi chép: “Lễ bộ dâng nghi chú tiết Trừ tịch và tiết Nguyên đán. Lễ trừ tịch, vua đến nhà Thái miếu làm lễ, các quan văn võ từ ngũ phẩm trở lên bồi tế. Lễ Nguyên đán và lễ Mồng ba, cũng thế. ở miếu Triệu tổ và miếu Hoàng khảo, đều sai quan làm lễ [Trừ tịch]. Đêm ấy các quan văn võ từ tứ phẩm trở lên túc trực ở hai bên công thự tả hữu; các lễ quan chia nhau túc trực ở các miếu. Nhạc công hát thờ. Ngày Nguyên đán, vua đến Thái miếu và miếu Hoàng khảo làm lễ. Miếu Triệu tổ thì sai quan làm lễ. Lễ xong, vua đem các quan đến cung Trường Thọ làm lễ chúc mừng. Lễ xong, vua ngự điện Thái Hòa nhận lễ chầu mừng. Lễ xong, các quan xin đến cung Khôn Đức lạy mừng. Ngày mồng 2 Tết, ở các miếu đều sai các quan đến làm lễ. Ngày mồng 3, vua đến nhà Thái miếu làm lễ. Miếu Triệu tổ và miếu Hoàng khảo thì sai các quan làm lễ). Sai chép làm lệ.”
Ngoài ra, nhân dịp Lễ Trừ tịch, vua triều Nguyễn còn thi hành việc Tha tù giam ở Kinh, thể hiện sự nhân đạo của triều đình đối với những người phạm tội biết hối cãi. Theo mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ tam kỷ, quyển 54 ghi chép: “Trước đây, đêm trừ tịch [tối 30 tết], vua dụ bộ Hình rằng: “Đương buổi xuân hoà, cỏ cây và các loài vật đều nhờ đó nảy nở. Huống chi, năm mới tiến phúc, trẫm tuổi tới tứ tuần, làm tiệc mừng ban ơn, thực nên khiến cho người ta biết tự sửa đổi. Các tù phạm bị đày ở trong quân, bị tội đồ làm nô, bị tội khổ sai, hiện đang phải giam ở Kinh là 115 người, nên hội đồng các quan ở Kinh, hiểu thị rõ ràng, tha cho về thăm nhà, hạn cho 15 ngày lại phải đến”. Khi đến kỳ hạn, không ai phải thúc giục, bọn chúng đều đến ứng điểm. Vua cho rằng bọn chúng đều biết cảm kích phấn khởi, nên tha cho cả. Những phạm nhân chưa trả xong số tiền phải bồi thường, cũng được rộng tha.”
Tiểu kết:
Từ những nghi lễ mang dấu ấn triều chính như Lễ Phong ấn, đến những nghi thức mang tính linh thiêng và cộng đồng như Tuế trừ, Trừ tịch, hay không khí rộn rã của Lễ Thượng tiêu, tất cả hợp thành một bức tranh Tết cung đình rực rỡ, vừa trang trọng vừa tràn đầy sắc xuân. Không chỉ giới hạn trong khuôn viên Hoàng thành, những nghi lễ này đã lan tỏa tinh thần “tống cựu nghinh tân” đến muôn dân, phản chiếu sâu sắc nếp sống, nếp nghĩ và khát vọng hòa bình – thịnh vượng của người Việt xưa.
Ngày nay, dù thời cuộc đổi thay, các nghi lễ ấy vẫn còn giá trị lớn trong việc nghiên cứu văn hóa, phục dựng di sản và nuôi dưỡng niềm tự hào dân tộc. Mỗi nghi lễ là một mảnh ghép của ký ức, một dấu ấn văn hóa cần được trân trọng và tiếp tục lan tỏa. Bởi trong những tiếng pháo đầu xuân, những nén hương dâng tổ tiên và những nghi thức đậm chất cung đình ấy là tinh thần nhân văn, là bản sắc Việt đã bền bỉ đi cùng dân tộc qua bao mùa xuân.
Tài liệu tham khảo:
1. Hồ sơ H4.2/19; H4.2/24; H4.2/64 sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, quyển 19, 24, 64 – Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV.
2. Hồ sơ H4.3/27 sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 27 – Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV.
3. Hồ sơ H4.4/33; H4.4/53; H4.4/54 sách Đại Nam thực lục chính biên đệ tam kỷ, quyển 33,53,54 – Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV.
4. Hồ sơ H4.5/56; H4.5/177 sách Đại Nam thực lục chính biên đệ tứ kỷ, quyển 56,177 – Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV.
Khánh Vy