Toàn cảnh Khu lưu niệm Danh nhân Lê Quý Đôn tại xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên. Nguồn: Sưu tầm

Năm 2026 đánh dấu 300 năm ngày sinh của Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726–2026), một trong những nhà bác học, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam thế kỷ XVIII. Trong suốt thời gian làm quan, ông đã để lại dấu ấn trên nhiều lĩnh vực như sử học, địa lý, văn học, giáo dục, triết học và quản lý nhà nước. Những đóng góp của Lê Quý Đôn không chỉ được thể hiện qua các trước tác do chính ông biên soạn mà còn được ghi chép trong một số bộ chính sử của triều Nguyễn, hiện được lưu giữ trong khối tài liệu Mộc bản triều Nguyễn – Di sản tư liệu thế giới được UNESCO công nhận năm 2009. Những bản khắc này là nguồn tư liệu quý phản ánh khá toàn diện về cuộc đời, sự nghiệp và vị trí của Lê Quý Đôn trong lịch sử dân tộc.

Lê Quý Đôn sinh năm Bính Ngọ (1726), quê ở huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam nay là thôn Đồng Phú, xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên. Ông nổi tiếng thông minh, ham học từ nhỏ và sớm bộc lộ năng lực học thuật đặc biệt. Sách Đại Nam nhất thống chí chép: “Lê Quý Đôn là người huyện Diên Hà, đỗ Bảng nhãn đời Cảnh Hưng từ thi Hương đến thi Đình đều đỗ đầu”. Tài năng của ông cũng được ghi chép trong Mộc bản sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển 41, mặt khắc 29: “Quý Đôn lúc còn bé có tiếng là thần đồng, đỗ Bảng nhãn khoa Nhâm Thân (1752) năm Cảnh Hưng”. Dù chỉ là những dòng ghi chép ngắn gọn, nhưng nội dung đó đã phản ánh con đường khoa cử đặc biệt của Lê Quý Đôn, từ một người học trò có tư chất nổi bật trở thành một trong những bậc đại khoa của triều Lê.

Mộc bản sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục ghi chép về việc Lê Quý Đôn đỗ Bảng nhãn khoa thi năm Nhâm Thân (1752). Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV

Sau khi đỗ đạt, Lê Quý Đôn được triều đình giao phó nhiều nhiệm vụ quan trọng. Ông không chỉ tham gia các công việc học thuật mà còn trực tiếp đảm nhiệm những trọng trách liên quan đến quản lý nhà nước. Năm Bính Tý (1756), ông được cử đi khảo sát tình hình quan lại ở các địa phương miền Tây – Nam. Mộc bản sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục ghi: “Sai bọn Lê Quý Đôn đi dò la xét hỏi quan lại các lộ miền Tây – Nam. Quý Đôn dâng nói: các quan ở phủ huyện, có bọn Nguyễn Duy Thuần thanh liêm, cần mẫn, bọn Trịnh Thụ tham nhũng, thối nát, gồm 13 người, hoặc thăng hoặc truất khác nhau.” Qua sự kiện này có thể thấy Lê Quý Đôn không chỉ được biết đến với tư cách một học giả mà còn là một vị quan có năng lực khảo sát, đánh giá thực tiễn, được triều đình tin tưởng giao nhiệm vụ xem xét phẩm chất và năng lực của đội ngũ quan lại địa phương.

Đến năm Tân Mão (1771), Lê Quý Đôn được bổ dụng giữ chức Tả thị lang bộ Công quyền giữ chức Đô ngự sử. Trong quá trình làm quan, ông nhiều lần được giao khảo sát tình hình thực tế tại địa phương. Năm Nhâm Thìn (1772), trước tình trạng người dân vùng biên giới phản ánh về sự nhũng nhiễu của quan lại, triều đình sai Lê Quý Đôn đi điều tra tình hình dân Lạng Sơn. Sau chuyến đi, ông trình bày thực trạng và viên đốc trấn Lê Doãn Thân bị bãi chức. Việc này cho thấy vai trò của Lê Quý Đôn trong việc thu thập thông tin thực tế, phản ánh tình hình địa phương và tham gia giải quyết những vấn đề trong quản lý đất nước. Năm Quý Tỵ (1773), Lê Quý Đôn được bổ sụng giữ chức Bồi tụng.

Bên cạnh hoạt động quản lý nhà nước, Lê Quý Đôn còn được lựa chọn tham gia các hoạt động bang giao với nhà Thanh. Năm Tân Tỵ (1761), ông cùng Trần Huy Mật thực hiện nhiệm vụ đi sứ: “Trước kia, nhà vua sai bọn Trần Huy Mật và Lê Quý Đôn sang nhà Thanh dâng lễ tuế cống và báo cáo việc Ý Tông mất. Đến nay nhà Thanh sai bọn Đức Bảo, hàn lâm thị độc, và Cố Nhữ Tu, đại lý thiếu khanh, đệ sách văn sang phong nhà vua làm An Nam quốc vương và dụ bảo việc ban lễ tế Ý Tông. Lúc ấy, nhân trong nước thái bình, Trịnh Doanh muốn phô trương nhân tài nước ta đông đúc, phần nhiều sai bầy tôi văn học như bọn Ngô Thì Sĩ giao thiệp ứng đối về việc giấy tờ. Bọn Thì Sĩ là người học hỏi sâu rộng, nên sứ thần nhà Thanh rất ngợi khen kính trọng.” Việc Lê Quý Đôn được lựa chọn tham gia hoạt động bang giao đã khẳng định trình độ học vấn và năng lực ngoại giao của ông.

Không chỉ được giao nhiệm vụ đối ngoại, Lê Quý Đôn còn giữ vai trò quan trọng trong lĩnh vực kiểm duyệt sách vở của triều đình. Năm Nhâm Ngọ (1762), ông được sung làm học sĩ ở Bí thư các để kiểm duyệt sách vở: “Đặt Bí thư các. Bổ dụng Nguyễn Bá Lân và Lê Quý Đôn sung làm Học sĩ trong Bí thư các, để duyệt kỹ sách vở”.

Trong lĩnh vực giáo dục, dấu ấn của Lê Quý Đôn tiếp tục được thể hiện rõ khi ông được bổ nhiệm giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám vào năm Đinh Hợi (1767). Đây là cơ quan đào tạo nhân tài của quốc gia. Mộc bản sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục ghi lại quan điểm của Trịnh Sâm về vai trò của giáo dục: “Trịnh Sâm bảo bầy tôi rằng trường học là nơi giáo dục nhân tài. Đế vương đời xưa không ai không cho việc học là việc trước nhất. Nước nhà ta, các bậc thánh vương nối tiếp trị vì, phép giáo dục rất đầy đủ, chọn người hiền, dùng người đức hạnh, thu được khá nhiều nhân tài. Ít lâu nay, thể văn dần dần biến đổi, học trò đục gọt tô điểm câu văn đã thành thói quen. Nay cần nghĩ cách thay đổi tệ cũ, khen thưởng bồi dưỡng cho học trò trở thành người giỏi, để thu lấy công hiệu được nhiều người có tài”.

Việc Lê Quý Đôn được giao giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám cho thấy ông không chỉ được đánh giá cao về học vấn và uy tín học thuật mà còn được triều đình nhà Lê tin cậy giao trọng trách tham gia chấn chỉnh giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ trí thức phục vụ công cuộc quản lý và phát triển đất nước.

Mộc bản sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục ghi chép về việc bổ nhiệm Lê Quý Đôn giữ chức Tư nghiệp Quốc Tử Giám, năm Đinh Hợi (1767). Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV

Trong sự nghiệp của mình, Lê Quý Đôn còn được ghi nhận là người có năng lực nghiên cứu và vốn hiểu biết sâu rộng nên có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực sử học. Năm Ất Mùi (1775), ông được giao tham gia quản lý công việc biên soạn quốc sử: “Triều đình hạ lệnh cho bọn Ngô (Thì) Sĩ, Phạm Nguyễn Du, Ninh Tốn và Nguyễn Sá cùng biên soạn, mà bổ dụng bọn bồi tụng Nguyễn Hoàn, Lê Quý Đôn và phó đô ngự sử Vũ Miên quản lãnh công việc.”

Không những trực tiếp tham gia tổ chức và quản lý việc biên soạn quốc sử, Lê Quý Đôn còn để lại dấu ấn đặc biệt thông qua hệ thống trước tác đồ sộ, góp phần làm phong phú kho tàng sử học và tri thức của dân tộc. Theo sách Đại Nam nhất thống chí: “trứ thuật của ông rất nhiều, nhưng trải qua loạn lạc, đã mất mát một phần, chỉ còn lại mấy bộ như Lê Triều thông sử, Phủ biên tạp lục, Quần thư thảo biện, Vân đài loại ngữ, Kiến văn tiểu lục.” Các tác phẩm này phản ánh sự quan tâm sâu rộng của ông đối với các vấn đề về lịch sử, địa lý, văn hóa, xã hội và tri thức đương thời.

Các trước tác của Lê Quý Đôn không chỉ có giá trị trong thời điểm ra đời, mà hậu thế cũng coi trọng. Đặc biệt là vào năm Gia Long thứ 3 (1804), triều Nguyễn tổ chức sưu tầm thư tịch trong dân gian: “Tìm những sách chứa riêng ở nhà dân. Người Duyên Hà (tên xã thuộc huyện Duyên Hà) là Lê Duy Thanh đem sáu quyển Tạp lục và hai quyển Quần thư khảo biện của cha là Lê Quý Đôn (đỗ Bảng nhãn triều Lê cũ, học vấn rộng) để dâng”. Việc triều Nguyễn tổ chức thu thập và lưu giữ các tác phẩm của Lê Quý Đôn cho thấy giá trị của những công trình này đã được nhìn nhận như một bộ phận quan trọng trong kho tàng thư tịch quốc gia.

Những ghi chép về thân thế và sự nghiệp của Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn trong khối tài liệu Mộc bản triều Nguyễn là minh chứng cho sức sống lâu bền của một di sản trí tuệ, đồng thời góp phần khẳng định vị trí của ông trong lịch sử văn hóa dân tộc. Những công trình và tư tưởng mà Lê Quý Đôn để lại vẫn tiếp tục được nghiên cứu, khai thác, trở thành nguồn tư liệu quý phục vụ việc tìm hiểu lịch sử, văn hóa và giáo dục Việt Nam.

Tài liệu tham khảo

1. Quốc sử quán Triều Nguyễn, Khâm dịnh Việt sử thông giám cương mục, Nxb Giáo dục, năm 2001;

2. Quốc sử quán Triều Nguyễn, Sách Đại Nam nhất thống chí, Nxb Thuận Hóa, năm 2006;

3. Hồ sơ H60/41, Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV;

4. Hồ sơ H60/43, Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV.

 

Bùi Mai