Trong dòng chảy lịch sử dân tộc, “kính lão trọng thọ” luôn được xem là một trong những giá trị cốt lõi hình thành nên nền tảng văn hóa Việt Nam. Không chỉ hiện diện trong đời sống dân gian, tinh thần ấy còn được các vua Triều Nguyễn đề cao như một phương sách trị quốc. Tiêu biểu trong số đó, có vua Minh Mệnh – vị quân vương luôn dành sự tôn kính và quan tâm đặc biệt đối với người cao tuổi. Những chính sách ưu đãi, chăm lo cho bậc lão niên không chỉ thể hiện tấm lòng nhân ái của nhà vua, mà còn góp phần vun đắp đạo hiếu, củng cố nền tảng đạo đức xã hội.

Mộc bản chữ Thọ. Nguồn: TTLTQGIV

VÌ SAO VUA MINH MỆNH DÀNH TÌNH THƯƠNG ĐẶC BIỆT CHO NGƯỜI GIÀ?

Vua Minh Mệnh có tình thương yêu sâu sắc đối với người già cả, đặc biệt là người già neo đơn, nghèo khổ. Bởi vì theo nhà vua trong chu kỳ cuộc đời của mỗi con người không ai tránh khỏi quy luật “sinh, lão, bệnh, tử”. Khi người ta bắt đầu bước vào tuổi già cơ thể trở nên lão hoá, ốm yếu, khí lực suy nhược, nên dễ sinh ra nhiều bệnh tật, khiến họ mất khả năng lao động, nuôi sống bản thân, thậm chí mất cả khả năng nhận biết. Do đó, chính sách của bậc vương giả là phải lấy việc dưỡng lão làm đầu. Trong sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 121, nhà vua đã từng nói rằng: “Chính sự Vương giả lấy việc kịp thời ban ơn cho người già làm trước nhất. Đời xưa, ông Tây Bá([1]) khéo nuôi người già. Vua Hiếu Văn([2]) hay thăm hỏi hạng người già lão”.

Trong tâm thức của vua Minh Mệnh cũng như trong quan niệm truyền thống của người Việt, người sống thọ và gia đình có bậc cao niên đều được xem là biểu hiện của phúc đức sâu dày. Chính nhờ có phúc mà con người được sống lâu, con cháu mới đông đúc, sum vầy. Sự quan tâm của nhà vua đối với người già không đơn thuần là ân huệ của bậc quân vương dành cho thần dân, mà còn là cách đề cao đạo hiếu, nuôi dưỡng lòng kính trọng đối với người cao tuổi trong toàn xã hội: “Vua trọng người già thì dân không dám thờ ơ với cha mẹ, ấy là dạy dân biết hiếu vậy. Tôi trung con hiếu, đàn bà tiết liệt, đàn ông nghĩa khí, người có nước rất nên khuyến khích. Từ xưa kính trọng tuổi tác, ưu đãi bậc già, cất nhắc người hiếu, nêu khen người liêm, đều là để rèn luyện phong hoá cho dân, sáng tỏ trị giáo của nước, để dẫn cuộc đời đến chốn nhân thọ”.

Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 171, mặt khắc 18 ghi lời vua Minh Mệnh: “Chính sự vương giả lấy việc kịp thời ban ơn cho người già làm trước nhất”. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV 

 Đồng thời, việc coi trọng người già cũng phản ánh mong ước về sự trường thọ của chính nhà vua: “Trẫm kính yêu người già, vốn tự tính trời không phải vì ngày nay giàu có bốn biển mới có việc này. Nhờ trời nhờ tổ ngày sau được trường thọ, chưa hẳn là không phải vì lòng ấy mà được”[3].

CHÍNH SÁCH ĐỐI ĐÃI VỚI CÁC BẬC LÃO THẦN

Để thể hiện tấm lòng đối với người già cả, vua Minh Mệnh tiến hành định lệ và nêu thưởng đối với tầng lớp quan thọ và dân thọ.

Đối với quan thọ, đó là những quan viên đảm nhiệm các chức vụ lớn nhỏ trong, ngoài triều đình và đều đã cao tuổi. Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 19, mặt khắc 7 biên chép việc định lệ cho quan thọ rằng: “Nhà vua nêu lệ thưởng đối với quan tuổi 80 trở lên, sẽ cho đề tâu rõ ràng, đợi chỉ để thưởng cấp tiền lụa theo thứ bậc. Như quan Nhất phẩm, quan Nhị phẩm, quan Tam phẩm mà thọ đến 100 tuổi thì được thưởng 100 lạng bạc, 10 tấm lụa. Từ quan Tứ phẩm, Ngũ, Lục phẩm được thưởng 80 lạng bạc, 8 tấm lụa. Quan Thất, Bát, Cửu phẩm thì thưởng 60 lạng bạc, 6 tấm lụa. Mệnh phụ([4]) sẽ chiếu theo phẩm hàm mà giảm đi 1 phần 3. Tất cả đều được cấp cho biển ngạch, dựng đình ở cửa làng để nêu khen. Lại thưởng thêm quan hàm và ban thêm ghế, gậy, gấm, đoạn, vàng, lụa. Tới kỳ thì tâu rõ ràng, đợi chỉ để ban cấp. Thọ 110 tuổi lại được thêm 50 lạng bạc, 5 tấm lụa; cứ thêm 10 tuổi thì số tiền thưởng, vải lụa lại gấp đôi lên, thưởng cấp hậu thêm. Còn như sĩ lưu, hương trưởng mà thọ 100 tuổi thì thưởng 30 lạng, vải lụa đều 5 tấm, cũng cho biển ngạch và dựng đình treo biển. Cứ thêm 10 tuổi sẽ thưởng thêm 10 lạng bạc. Chữ biển ngạch thọ quan và sĩ lưu thì tới kỳ tâu xin sắc cho”.

Những người làm quan gặp khi tuổi già, xin vua về hưu dưỡng. Xét nếu thấy được vua đều chuẩn y cho, sau khi về hưu cứ theo phẩm hàm mà chi bổng lộc. Vua Minh Mệnh cũng rất quan tâm tới cha mẹ già của các quan viên. Năm Mậu Tuất (1838) ban dụ: “Phàm các địa phương ở Kinh và tỉnh ngoài, trong hạt nếu có quan viên làm quan xa, quan văn từ Tứ phẩm, quan võ từ Tam phẩm trở lên mà ở nhà còn có cha mẹ già, thì những quan viên hiện đang làm quan trông coi hạt ấy phải định kỳ phái người đến thăm hỏi. Nếu có ốm đau bệnh nặng, tức thì phải sai thầy thuốc đến để điều trị, cho người con yên tâm giữ chức, để tỏ ý ta rộng lòng kính yêu người già không chỉ nhà mình mà còn đến cả người già nhà khác”.

CHÍNH SÁCH ĐỐI ĐÃI VỚI NGƯỜI DÂN SỐNG THỌ

Vua Minh Mệnh không chỉ quan tâm tới các bậc lão thành danh vọng, những người giúp việc kề cận, đắc lực cho mình, mà vua còn quan tâm tới những người già nghèo khổ trong thôn cùng, ngõ hẻm.

Ngoài những điều khoản tốt đẹp đối với người già như miễn lao dịch, giảm thuế khóa, chẩn cấp thóc gạo, tiền bạc khi gặp nạn đói, túng thiếu. Nhà vua còn cho xây dựng khắp nơi các sở Dưỡng tế để những người nghèo khốn khó, người già neo đơn, không nơi nương tựa có chỗ trú thân, mua gạo nấu cơm cháo cấp nuôi, không để họ phải bơ vơ, phiêu dạt nay đây, mai đó. Giống như đối đãi với các thọ quan, vua Minh Mệnh cũng đặt ra những điều lệ cho những người dân thường cao tuổi.

Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 19, mặt khắc 7 cũng ghi chép về chính sách: “Nhà vua ra lệnh cho các quan thành dinh trấn đều phải dụng tâm tìm hỏi trong dân gian có người nào già cả, giao cho hương lý kê khai tên tuổi, quê quán rồi trình quan sở tại, làm tập danh sách tâu lên, chờ bộ Lễ đề bạt nêu thưởng. Đàn ông thọ 100 tuổi được thưởng 30 lạng bạc, vải lụa mỗi thứ 3 tấm. Đàn bà thọ 100 tuổi được thưởng 20 lạng bạc, lụa vải đều 2 tấm. Nếu tuổi thọ tăng thêm 10 tuổi sẽ thưởng thêm 10 lạng bạc. Tất cả đều được cấp biển treo ở nơi ở. Về biển ngạch, mé trên khắc hai chữ “sắc tứ”, ở dưới khắc những chữ niên hiệu, ngày, tháng, chung quanh chạm trổ mây hoa, và sơn son thếp vàng. Biển ngạch của người đàn ông thọ, thì ở giữa khắc hai chữ lớn “Thọ dân”. Đàn bà thì khắc chữ “Trinh thọ”. Nơi nào có dân thọ thì quan thủ hiến và trưởng quan phủ huyện, thường phải tới hỏi thăm; đầu năm sai người đến nhà cấp rượu thịt, để tỏ ý tốt hậu đãi người già.

Vua còn giao cho các quan địa phương, những nơi nào có người già phải làm danh sách nộp nhanh để kịp thời ban thưởng. Có lần danh sách tâu chậm, 8 người “Thọ dân” ở Quảng Đức, Quảng Nam, Quảng Bình chưa được ban thưởng thì đã mất. Vua nghe tin nói: “Tuổi tác là cái quý trong thiên hạ từ lâu. Chính sách của vương giả lấy việc dưỡng lão làm đầu. Đời Hán ban chiếu lệnh ở Sơn Đông thì những người già xin thong thả đừng chết vội để xem đức hoá. Nay địa phương kinh kỳ có người tuổi cao như thế mà lại để cho thân không kịp hưởng phúc trạch thái bình, đó là tội của quan địa phương”. Dinh thần đều giáng một cấp”[5].

Đặc biệt vào những dịp trọng đại như lễ khánh tiết, hay mỗi dịp đầu xuân năm mới, vua Minh Mệnh đều gia ơn sâu rộng ban cho các kỳ lão được uống rượu, ăn yến ngụ ý tôn người tôn trưởng, triều đình yêu nuôi người già.

Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhỉ kỷ, quyển 11, mặt khắc 20 ghi chép về việc vua Minh Mệnh ban “cho kỳ lão Bắc Thành 3.000 quan tiền. Ai 90 tuổi trở lên, cho thêm 1 tấm lụa”. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV

Ngày nay, khi xã hội ngày càng phát triển, đời sống vật chất được nâng cao, sự quan tâm dành cho người cao tuổi cũng trở nên toàn diện hơn. Quan điểm kính lão trọng thọ của vua Minh Mệnh không chỉ thể hiện tấm lòng của một bậc minh quân mà còn rất gần gũi với đạo lý truyền thống của người Việt. Những giá trị ấy đến nay vẫn còn vẹn nguyên ý nghĩa, trở thành bài học quý để mỗi người gìn giữ và noi theo./.

Tài liệu tham khảo

1. Hồ sơ số H22, Mộc bản Triều Nguyễn – Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV.

2. Quốc Sử quán Triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, NXB Giáo dục, năm 2004;

3. Nội các Triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, NXB Thuận Hóa; năm 2005.

Chú thích:

([1])  Tây Bá tức Chu Văn vương.
([2])  Hiếu Văn tức Hán Văn đế.
([3])  Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, NXB Giáo dục, 2004, T.3, tr. 32
([4]) Mệnh phụ là vợ các quan to văn võ được sắc phong
 ([5]) Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, NXB Giáo dục, 2004, T.2, tr. 199

Cao Quang