
Ảnh vua Minh Mệnh. Nguồn:Sưu tầm
Cách đây 235 năm (25/5/1791-25/5/2026), mảnh đất Tân Lộc, Gia Định đã đón chào sự ra đời của Hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm – người sau này trở thành vị quân chủ kiệt xuất vua Minh Mệnh. Chính nơi “chôn rau cắt rốn” ấy đã trở thành một phần ký ức không thể tách rời, để rồi nhiều năm sau, những trang Mộc bản triều Nguyễn đã trang trọng ghi lại quá trình xây dựng của chùa Khải Tường – ngôi quốc tự được dựng lên để tri ân mảnh đất nơi nhà vua sinh ra. Lật mở từng bản khắc gỗ, ta không chỉ thấy cứ liệu lịch sử về một danh thắng, mà còn chạm vào tấm lòng đau đáu hướng về gốc tích của một bậc thiên tử.
Theo ghi chép của Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ quyển 5, mặt khắc 20, vua Minh Mệnh chào đời trong hoàn cảnh đất nước còn loạn ly chưa được thống nhất: “Mùa hạ, tháng 4, ngày Đinh Mão, hoàng tử thứ tư (tức Thánh tổ Nhân hoàng đế) sinh, con phi thứ hai là Trần thị (tức là Thuận thiên Cao Hoàng hậu. Phi là con gái Lễ bộ Tham tri Trần Hưng Đạt, năm 14 tuổi cưới về. Đương lúc Tây Sơn hoành hành, phải bôn ba, mỗi đêm phi đốt hương khấn trời rằng: Hiện nay vận nước còn rối ren, vua tôi bôn ba chửa có nơi yên. Nếu nhờ phúc lớn, nhất đán sinh con, thì sợ trong bước loạn ly, khi ra đi mà bỏ thì không nỡ, mà bồng bế theo nhau thì không khỏi phiền lòng chúa thượng, hai bề đều khó xử cả. Nếu mệnh ta đáng có con, xin chờ thiên hạ bình yên rồi hãy sinh. Thực nhờ ơn trời cho vậy. Khi vua lấy lại được Gia Định, phi một đêm mộng thấy thần dân đem trình một cái tỷ và hai cái ấn, cái tỷ sắc đỏ, sáng tươi như mặt trời, ấn thì một cái sắc tía một cái sắc nhạt. Phi đều nhận cả. Năm ấy phi 24 tuổi, sinh ra mình thánh là ứng điềm đầu, thánh sinh ở xóm Tân Lộc về phía hữu thành Gia Định”.

Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhất kỷ, quyển 5, mặt khắc 20 ghi chép về hoàn cảnh và nơi vua Minh Mệnh chào đời. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV
Năm Canh Thìn (1820), vua Gia Long băng hà, vua Minh Mệnh lên nối ngôi. Ngoài việc lo nhiếp chính triều đình, ông cũng luôn ấp ủ, lo lắng tìm về gốc tích và nơi mình đã sinh ra, vua từng nói “Trước đây, cố cung chỗ sinh Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta tại xã Dương Xuân, từ khi trải qua binh biến mất cả di chỉ. Sau khi cả nước đã yên, tìm hỏi không ra mỗi khi nghĩ đến thương cảm không nguôi! Nhân đó nghĩ đến chỗ sinh ta ở nhà cũ của Tống Quốc công phu nhân tại ngoại thành Gia Định, vậy sai quan địa phương tìm hỏi xem”.
Nhưng đến năm Nhâm Thìn (1832), quan thành Gia Định mới tìm được dấu tích nơi vua được sinh ra là ở Tân Lộc, vẽ bản đồ dâng lên. Lúc này vua Minh Mệnh mới chính thức ra lệnh cho quan địa phương theo cách thức đã định của bộ Công xây dựng một ngôi chùa nơi đây và ban tên là chùa Khải Tường. Tên gọi của ngôi chùa mang một ý nghĩa rất đặc biệt để ám chỉ đây là nơi vua sinh ra, là vùng đất quý, phát phúc lâu dài, rộng rãi.
Vua dụ rằng: “Lân Tân Lộc ở phía hữu thành Gia Định, khi trước, Hoàng Thái hậu ta đi theo Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta vào Nam, từng đóng lại ở nơi ấy. Thực là hợp với điềm tốt: “Cầu vồng trôi ở bến hoa” nghĩ đến đất quý phát phúc càng nên giữ mãi dấu tích, để khuyến khích sau này. Vậy nên xây dựng ngôi chùa ở ngay chỗ đất ấy, gọi là chùa Khải Tường để ghi sự tốt lành to tát chứng tỏ nơi phát phúc lâu dài”.

Mộc bản sách Đại Nam thực lục quyển 83, mặt khắc 23 ghi chép về việc vua Minh Mệnh cho xây dựng chùa Khải Tường năm (1832). Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV

Ảnh Chùa Khải Tường. Nguồn: Sưu tầm
Mộc bản sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 208 cũng ghi chép về việc vua Minh Mệnh cho xây dựng chùa Khải Tường như sau: “Vua Minh Mệnh năm thứ 13 (1832) dụ: Xóm Tân Lộc ở bên hữu thành Gia Định, phụng Hoàng Thái hậu ta khi theo Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta đi tuần hạch phương nam, từng dừng xa giá ở đất ấy, có điềm cầu vồng sa xuống bến hoa tư hợp ngày điềm tốt, nhớ đến đất quý phát điềm lành, phải nên lưu thắng tích lại lâu dài, để bảo cho đời sau. Nay chuẩn lập ngay 1 tòa chùa ở đất ấy gọi là chùa Khải Tường, để ghi phúc to mà nêu phúc địa, phàm công việc thờ cúng, do bộ Lễ tư tống tuần hành, phải kính tuân đấy”.
Chùa này thuộc vào hàng quốc tự, nên việc xây dựng được nhà nước chu cấp kinh phí hoàn toàn, vua Minh Mệnh sai lấy của kho 300 lạng bạc, giao quan địa phương, theo cách thức đã định của bộ Công, gọi thợ xây dựng. Quy mô và kiến trúc của chùa gồm: “một tòa nhà chính 3 gian, hai hành lang bên tả bên hữu, mỗi bên một gian, một tòa lầu chuông trống 3 gian 2 chái, một phòng sư, một nhà bếp, đều 3 gian 2 chái”.

Mộc bản sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ ghi chép về kiến trúc của chùa Khải Tường. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV
Đến năm Minh Mệnh thứ 17 (1836), nhà vua sai quan tỉnh Gia Định trùng tu và sửa chữa lại chùa Khải Tường và xây dựng thêm hành cung ở phía trước chùa. Vua dụ rằng: “Nơi ấy là đất quý phát phúc, trước đã lập chùa để lưu di tích danh thắng. Nay việc tỉnh hơi rỗi, nên sửa sang chùa ấy lại. Lại dựng hành cung ở trước chùa để ngưng tụ lấy phúc lành và ghi nhớ điều tốt lớn. Về sau, xây dựng tỉnh thành, không làm hành cung ở trong thành nữa”.
Sau khi chùa được xây dựng xong, vua sai mộ các sư đến ở, hạn là 20 người. Việc cúng tế và thờ tự ở chùa được nhà vua hết sức quan tâm. Các lễ tiết hằng năm, có ruộng tự điền được đặt để sung cấp. Phàm gặp tiết Thánh thọ, tiết Vạn thọ và các lễ như: ngày trừ tịch trồng cây nêu, tết Nguyên đán, tết Đoan dương, tiết Tam nguyên, ngày sóc, ngày vọng đều dâng cúng đồ chay và hương nến.
Chuẩn lời nghị chùa Khải Tường hàng năm các lễ tiết như: “Tuế trừ, Thượng tiêu, Chính đán, Đoan dương, 3 tiết tam nguyên và sóc vọng hàng tháng, mỗi án thờ phải đủ cỗ chay và hương trà, giấy vàng bạc đều đủ, gặp tiết Vạn Thọ (23 tháng 4), tiết Thánh thọ (17 tháng 11) các nhà sư đều chiểu theo y lễ lệ sắm đủ các thứ cỗ chay, dâng lên trước bàn thờ phật, đốt hương khấu chúc, còn như những người sư ở chùa ấy chuẩn cho địa phương chiêu mộ, lấy 20 người làm bạn. Năm Minh Mệnh thứ 18, chuẩn lời nghị: 20 mẫu ruộng ở nhà chùa Khải Tường, tha cho thuế, cấp giao trụ trì chùa ấy là Nguyễn Chính trực cày cấy thu hoa lợi chi biện vào lệ các lễ”. Ngoài ra, nhà vua còn triệu tập các tăng trong hạt đến chùa lập đàn tụng kinh ba tuần, tức là 21 ngày đêm, cứ mỗi tuần 7 ngày phát chẩn một lần. Dưới triều vua Thiệu Trị, việc lập đàn thờ cúng vẫn tiếp tục được thực hiện.
Trải qua những biến thiên của lịch sử và sự xâm lược của thực dân Pháp, kiến trúc chùa Khải Tường nay chỉ còn là phế tích, nhưng những ghi chép quý giá trong tư liệu Mộc bản vẫn vẹn nguyên giá trị. Đó là minh chứng cho tấm lòng và sự trân trọng về cội nguồn nơi mình sinh ra của vua Minh Mệnh – Vị vua đã có những đóng góp to lớn cho sự hưng thịnh của vương triều Nguyễn./.
Tài liệu tham khảo:
1. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Nxb Giáo dục, năm 2004;
2. Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Nxb Thuận Hóa; năm 2005;
3. Hồ sơ H21/6, Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV;
4. Hồ sơ H22/84, Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV;
5. Hồ sơ H48/208, Mộc bản Triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV.
Bùi Thị Mai