Báo cáo chính trị Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác lập hệ tư duy phát triển mới cho đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, nhấn mạnh chuyển đổi số, phát triển văn hóa, phát huy con người và tăng cường tự chủ chiến lược trong hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh đó, ngành Lưu trữ với chức năng quản lý tài liệu hình thành trong hoạt động của Đảng, Nhà nước và xã hội đứng trước yêu cầu đổi mới căn bản về tư duy, mô hình và phương thức phát triển. Bài viết này phân tích cơ sở chính trị – lý luận từ Báo cáo chính trị Đại hội XIV và đề xuất định hướng chiến lược phát triển ngành Lưu trữ Việt Nam theo ba trụ cột: chuyển đổi số toàn diện; phát huy giá trị tài liệu gắn với phát triển văn hóa; hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Qua đó, khẳng định vai trò của ngành Lưu trữ như một bộ phận quan trọng của hạ tầng số quốc gia, nguồn lực thông tin chiến lược phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

 1. Mở đầu

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng được tổ chức trong bối cảnh đặc biệt: đất nước ta sau gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo dựng được thế và lực mới cho phát triển. Kinh tế tăng trưởng ổn định, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân không ngừng được nâng cao; quốc phòng, an ninh được giữ vững; vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được củng cố. Những thành tựu đó khẳng định tính đúng đắn của con đường phát triển mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đã kiên định lựa chọn.

Tuy nhiên, Đại hội XIV cũng diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp và khó lường. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng; các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen; cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt là chuyển đổi số, đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất, quản trị và phát triển. Những biến động đó vừa mở ra thời cơ mới, vừa đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới tư duy phát triển ở tầm chiến lược, nhằm bảo đảm đất nước phát triển nhanh, bền vững và tự chủ trong hội nhập quốc tế sâu rộng.

Trên cơ sở tổng kết sâu sắc thực tiễn gần bốn thập kỷ đổi mới và phân tích toàn diện bối cảnh trong nước, quốc tế, Báo cáo chính trị Đại hội XIV đã xác lập tư duy phát triển mới, mang tính đột phá. Tư duy đó nhấn mạnh yêu cầu phát triển nhanh đi đôi với phát triển bền vững, lấy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu; đồng thời khẳng định vai trò trung tâm của văn hóa và con người Việt Nam trong chiến lược phát triển đất nước. Đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức lý luận của Đảng về mô hình và động lực tăng trưởng trong giai đoạn mới.

Trong cấu trúc tư duy phát triển mới đó, thông tin và dữ liệu được xác định là nguồn lực chiến lược mới của quốc gia. Dữ liệu không chỉ là phương tiện hỗ trợ quản lý, mà trở thành yếu tố đầu vào trực tiếp cho quá trình lãnh đạo, quản trị, hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện các mục tiêu phát triển. Chất lượng thông tin, dữ liệu gắn liền với chất lượng ra quyết định, hiệu lực quản lý nhà nước và năng lực cầm quyền của Đảng; đồng thời liên quan chặt chẽ đến bảo đảm an ninh chính trị, an ninh quốc gia và chủ quyền số trong bối cảnh chuyển đổi số toàn diện.

Chính trong bối cảnh đó, ngành Lưu trữ với chức năng thu thập, bảo quản và tổ chức sử dụng, phát huy tài liệu hình thành trong hoạt động của Đảng, Nhà nước và xã hội đang đứng trước yêu cầu chuyển hóa căn bản về vai trò và phương thức hoạt động. Ngành Lưu trữ không còn chỉ là lĩnh vực hỗ trợ hành chính mang tính hậu cần, mà từng bước chuyển sang ngành quản trị tài nguyên thông tin dữ liệu gốc, có giá trị pháp lý, lịch sử và chính trị đặc biệt quan trọng. Sự chuyển hóa này phản ánh yêu cầu tất yếu của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chính phủ số và nền quản trị quốc gia hiện đại.

Từ những luận điểm trên có thể khẳng định, việc nghiên cứu định hướng chiến lược phát triển ngành Lưu trữ theo tinh thần Báo cáo chính trị Đại hội XIV không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận, góp phần làm rõ vị trí, vai trò của ngành Lưu trữ trong tư duy phát triển mới của Đảng, mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Bài viết này sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách, tổ chức thực hiện chuyển đổi số trong lĩnh vực lưu trữ, phát huy giá trị tài liệu phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia, dân tộc trong giai đoạn mới.

2. Cơ sở chính trị – lý luận từ Báo cáo chính trị Đại hội XIV

Báo cáo chính trị Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam là văn kiện có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện sự phát triển mới trong tư duy lý luận và đường lối lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Những quan điểm, định hướng lớn được xác lập trong Báo cáo không chỉ định hình mô hình phát triển tổng thể của đất nước, mà còn tác động trực tiếp đến nhận thức về vai trò, vị trí và phương thức phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực, trong đó có ngành Lưu trữ.

Trước hết, Báo cáo chính trị Đại hội XIV khẳng định chuyển đổi số quốc gia là một trong những đột phá chiến lược, gắn chặt với xây dựng Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Đây không chỉ là sự lựa chọn về mặt công nghệ, mà là sự chuyển đổi mang tính căn bản về phương thức phát triển và quản trị quốc gia. Chuyển đổi số đòi hỏi phải tái cấu trúc toàn diện các lĩnh vực quản lý nhà nước, từ tổ chức bộ máy, quy trình nghiệp vụ đến phương thức thu thập, xử lý và khai thác thông tin. Trong bối cảnh đó, công tác lưu trữ nơi hình thành, bảo quản và cung cấp nguồn thông tin chính thống, có giá trị pháp lý không thể tiếp tục vận hành theo mô hình truyền thống, mà phải được đổi mới căn bản để đáp ứng yêu cầu của nền quản trị số.

Tiếp theo, Báo cáo chính trị Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh và làm sâu sắc hơn quan điểm coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển. Quan điểm này kế thừa tư duy nhất quán của Đảng trong các kỳ đại hội trước, đồng thời được bổ sung những nội hàm mới phù hợp với bối cảnh phát triển và hội nhập hiện nay. Trong đó, việc bảo tồn và phát huy các giá trị lịch sử – văn hóa của dân tộc không chỉ mang ý nghĩa gìn giữ truyền thống, mà còn góp phần củng cố bản lĩnh chính trị, tăng cường sức mạnh nội sinh và sự bền vững của con đường phát triển đất nước. Tài liệu lưu trữ, đặc biệt là các tài liệu phản ánh quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng, lịch sử hình thành và phát triển của Nhà nước và dân tộc, vì vậy trở thành nguồn tài nguyên lịch sử – văn hóa đặc biệt quan trọng, cần được bảo quản, khai thác và phát huy giá trị một cách chủ động, có định hướng chiến lược.

Bên cạnh đó, Báo cáo chính trị Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu tăng cường tự chủ chiến lược gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, coi đây là điều kiện quan trọng để bảo đảm phát triển nhanh, bền vững và giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia. Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, các yếu tố an ninh phi truyền thống, đặc biệt là an ninh thông tin, an ninh dữ liệu và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian số, được đặt ra như những vấn đề mới, có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Điều này làm thay đổi cách tiếp cận đối với công tác lưu trữ, bởi tài liệu lưu trữ không chỉ mang giá trị lịch sử, pháp lý, mà còn liên quan trực tiếp đến bảo vệ bí mật nhà nước, bảo đảm an ninh quốc gia và chủ quyền số. Do đó, phát triển ngành Lưu trữ phải được đặt trong tổng thể chiến lược bảo đảm an ninh thông tin và tự chủ dữ liệu của quốc gia.

Tổng hợp các nội dung trên cho thấy, những định hướng lớn được xác lập trong Báo cáo chính trị Đại hội XIV đã tạo nên cơ sở chính trị – lý luận vững chắc để xác lập chiến lược phát triển ngành Lưu trữ trong giai đoạn mới. Ngành Lưu trữ không chỉ chịu tác động thụ động từ các định hướng chung, mà cần được nhìn nhận như một bộ phận cấu thành quan trọng của hạ tầng thông tin quốc gia, có vai trò trực tiếp trong thực hiện các mục tiêu chuyển đổi số, phát triển văn hóa và bảo đảm tự chủ chiến lược của đất nước. Trên cơ sở đó, việc xây dựng và triển khai chiến lược phát triển ngành Lưu trữ theo tinh thần Đại hội XIV là yêu cầu khách quan, phù hợp với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh mới.

3. Ba trụ cột chiến lược phát triển ngành Lưu trữ theo tinh thần Đại hội XIV

3.1. Chuyển đổi số toàn diện: từ “kho lưu trữ” sang “tài nguyên dữ liệu quốc gia”

Chuyển đổi số được Báo cáo chính trị Đại hội XIV xác định là đột phá chiến lược trong phát triển đất nước, tác động toàn diện đến phương thức lãnh đạo, quản lý và tổ chức xã hội. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật, mà là quá trình chuyển đổi tư duy, mô hình và phương thức hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị. Đối với ngành Lưu trữ, chuyển đổi số giữ vai trò trụ cột trung tâm, mang tính quyết định đối với sự phát triển trong giai đoạn tới.

Theo tinh thần Đại hội XIV, ngành Lưu trữ cần chuyển từ tư duy “kho tàng”, coi lưu trữ chủ yếu là bảo quản tài liệu quá khứ, sang tư duy quản trị tài nguyên thông tin – dữ liệu, coi tài liệu lưu trữ là nguồn lực chiến lược phục vụ phát triển. Trong đó, tài liệu lưu trữ phải được xác định là dữ liệu gốc có giá trị pháp lý, lịch sử và chính trị, là đầu vào quan trọng cho Chính phủ số, xã hội số và nền quản trị quốc gia hiện đại. Điều này đặt ra những yêu cầu chiến lược sau:

– Xây dựng Cơ sở dữ liệu tài liệu lưu trữ quốc gia thống nhất, đồng bộ

Đây là nền tảng cốt lõi của chuyển đổi số ngành Lưu trữ, nhằm bảo đảm quản lý tập trung, chuẩn hóa và khai thác hiệu quả tài liệu lưu trữ trên phạm vi toàn quốc. Cơ sở dữ liệu này không chỉ phục vụ công tác chuyên môn lưu trữ, mà còn tạo điều kiện kết nối với các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia khác, phục vụ lãnh đạo, quản lý và hoạch định chính sách.

– Thực hiện lưu trữ điện tử đầy đủ đối với tài liệu hình thành trong hoạt động của các cơ quan nhà nước

Lưu trữ điện tử không chỉ là số hóa tài liệu giấy, mà còn bao gồm việc quản lý toàn bộ vòng đời tài liệu số từ khi hình thành, xử lý, sử dụng đến bảo quản lâu dài, vĩnh viễn. Đây là yêu cầu tất yếu trong xây dựng Chính phủ số, thúc đẩy xây dựng Nền tảng số quốc gia về văn thư và lưu trữ, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, minh bạch hóa hoạt động công vụ và cải cách hành chính.

– Kết nối, chia sẻ dữ liệu tài liệu lưu trữ với các nền tảng dữ liệu quốc gia khác

Việc kết nối dữ liệu lưu trữ với các cơ sở dữ liệu về dân cư, đất đai, doanh nghiệp… giúp phát huy giá trị tổng hợp của dữ liệu quốc gia, phục vụ tốt hơn nhu cầu của người dân, doanh nghiệp và xã hội. Đồng thời, đây cũng là điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực dự báo, phân tích và ra quyết định trong quản trị quốc gia.

Như vậy, trong tư duy phát triển mới của Đại hội XIV, ngành Lưu trữ không chỉ bảo quản quá khứ, mà còn trực tiếp tham gia kiến tạo tương lai phát triển đất nước thông qua việc cung cấp nguồn dữ liệu tin cậy, đầy đủ, có giá trị pháp lý và khoa học cho quản trị quốc gia.

3.2. Phát huy giá trị tài liệu lưu trữ gắn với phát triển văn hóa

Báo cáo chính trị Đại hội XIV tiếp tục khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển bền vững. Quan điểm này đặt ra yêu cầu phải khai thác hiệu quả các nguồn lực văn hóa – lịch sử của dân tộc, trong đó tài liệu lưu trữ giữ vị trí đặc biệt quan trọng.

Tài liệu lưu trữ không chỉ phản ánh trung thực tiến trình lịch sử của Đảng, Nhà nước và dân tộc, mà còn là bằng chứng lịch sử, chính trị, pháp lý có giá trị lâu dài. Do đó, phát huy giá trị tài liệu lưu trữ cần được đặt trong chiến lược phát triển văn hóa theo tinh thần Đại hội XIV, với những định hướng chủ yếu sau:

– Chủ động công bố, giới thiệu, trưng bày tài liệu lưu trữ dưới nhiều hình thức

Việc công bố, trưng bày tài liệu không chỉ nhằm giới thiệu di sản lịch sử, mà còn góp phần lan tỏa các giá trị cách mạng, giá trị văn hóa, tăng cường nhận thức xã hội về vai trò của lưu trữ. Hình thức thực hiện cần đa dạng, kết hợp giữa trưng bày truyền thống và trưng bày số, triển lãm trực tuyến.

– Gắn khai thác tài liệu lưu trữ với giáo dục lịch sử, truyền thống cách mạng

Tài liệu lưu trữ là nguồn tư liệu xác thực, có sức thuyết phục cao trong giáo dục lịch sử, bồi dưỡng lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm công dân và bản lĩnh chính trị cho các thế hệ, nhất là thế hệ trẻ. Đây là nhiệm vụ quan trọng trong công tác tư tưởng, văn hóa của Đảng.

– Triển khai hiệu quả các chương trình công bố tài liệu phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ chủ quyền quốc gia

Việc công bố tài liệu lưu trữ về biên giới, hải đảo, lịch sử đấu tranh bảo vệ chủ quyền có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh quốc tế hiện nay, góp phần củng cố cơ sở pháp lý, lịch sử cho công cuộc bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc.

Như vậy, phát huy giá trị tài liệu lưu trữ không chỉ góp phần bảo tồn di sản văn hóa, mà còn củng cố nền tảng tư tưởng, tinh thần của xã hội, đúng với tinh thần và yêu cầu mà Đại hội XIV đã đặt ra.

3.3. Hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Hiện đại hóa là điều kiện bảo đảm để ngành Lưu trữ thực hiện thành công chuyển đổi số và phát huy giá trị tài liệu lưu trữ. Trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển nhanh và hội nhập quốc tế sâu rộng, hiện đại hóa ngành Lưu trữ cần được triển khai đồng bộ trên các phương diện sau:

– Đầu tư xây dựng các kho lưu trữ chuyên dụng hiện đại

Các kho lưu trữ cần được xây dựng, nâng cấp theo tiêu chuẩn tiên tiến, bảo đảm điều kiện bảo quản an toàn tài liệu trước tác động của thời gian, biến đổi khí hậu và thiên tai. Đây là yêu cầu căn bản để bảo vệ an toàn lâu dài tài liệu lưu trữ quốc gia.

– Phát triển đội ngũ cán bộ lưu trữ có trình độ chuyên môn cao

Trong giai đoạn mới, cán bộ lưu trữ không chỉ cần vững nghiệp vụ truyền thống, mà còn phải am hiểu công nghệ thông tin, quản trị dữ liệu, an ninh thông tin. Nguồn nhân lực chất lượng cao là yếu tố quyết định thành công của chiến lược phát triển ngành.

– Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực lưu trữ

Hợp tác quốc tế giúp ngành Lưu trữ Việt Nam tiếp cận các chuẩn mực, kinh nghiệm tiên tiến; đồng thời tạo điều kiện sưu tầm, khai thác các tài liệu về Việt Nam đang lưu giữ ở nước ngoài, phục vụ nghiên cứu lịch sử và bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực lưu trữ không chỉ góp phần nâng cao năng lực chuyên môn, mà còn khẳng định vị thế và uy tín của Việt Nam trong cộng đồng lưu trữ quốc tế, phù hợp với đường lối đối ngoại và hội nhập mà Đại hội XIV đã xác lập.

4. Ý nghĩa chiến lược của sự chuyển đổi mô hình phát triển ngành Lưu trữ

Theo tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự chuyển đổi mô hình phát triển của ngành Lưu trữ không phải là sự điều chỉnh mang tính kỹ thuật hay nghiệp vụ đơn thuần, mà là một chuyển biến có ý nghĩa chiến lược, gắn liền với đổi mới tư duy lãnh đạo, quản lý và phương thức phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Từ góc độ đó, ngành Lưu trữ đang từng bước chuyển dịch từ vai trò hỗ trợ hành chính sang nguồn lực thông tin chiến lược, có tác động trực tiếp đến năng lực quản trị quốc gia, hiệu lực quản lý nhà nước và hiệu quả lãnh đạo của Đảng.

Trước hết, sự chuyển dịch từ quản lý tài liệu giấy sang quản trị dữ liệu số phản ánh yêu cầu tất yếu của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện chuyển đổi số. Trong Nhà nước pháp quyền, mọi hoạt động lãnh đạo, quản lý đều phải dựa trên cơ sở pháp lý rõ ràng, minh bạch, có bằng chứng xác thực. Tài liệu lưu trữ với tư cách là dữ liệu gốc có giá trị pháp lý giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính liên tục và kế thừa trong hoạt động của bộ máy nhà nước. Việc chuyển sang quản trị dữ liệu số giúp nâng cao khả năng tiếp cận, khai thác và sử dụng tài liệu lưu trữ, qua đó góp phần tăng cường kỷ cương, kỷ luật, trách nhiệm giải trình và hiệu quả quản lý nhà nước.

Thứ hai, sự chuyển dịch từ tiếp cận thụ động sang chủ động phục vụ phát triển thể hiện bước tiến quan trọng trong nhận thức về vai trò của ngành Lưu trữ. Nếu trước đây, lưu trữ chủ yếu đáp ứng nhu cầu khai thác khi có yêu cầu phát sinh, thì trong mô hình phát triển mới, ngành Lưu trữ phải chủ động cung cấp thông tin, dữ liệu phục vụ công tác lãnh đạo, quản lý, hoạch định và điều hành chính sách. Điều này phù hợp với yêu cầu của nền quản trị hiện đại, trong đó dữ liệu trở thành đầu vào thiết yếu cho phân tích, dự báo và ra quyết định, nhất là trong bối cảnh phát triển kinh tế số và xã hội số.

Thứ ba, sự chuyển đổi mô hình phát triển ngành Lưu trữ gắn chặt với yêu cầu phát triển kinh tế số và xây dựng hạ tầng số quốc gia. Trong nền kinh tế số, dữ liệu được coi là nguồn lực sản xuất mới, có giá trị không kém các nguồn lực truyền thống như vốn, lao động hay tài nguyên thiên nhiên. Tài liệu lưu trữ với độ tin cậy cao và giá trị pháp lý đặc thù là thành phần quan trọng của hệ sinh thái dữ liệu quốc gia. Việc khai thác hiệu quả tài liệu lưu trữ góp phần cung cấp thông tin nền tảng cho xây dựng chính sách, phát triển các ngành kinh tế, dịch vụ, văn hóa, đồng thời hỗ trợ đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Thứ tư, từ góc độ bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, sự chuyển đổi mô hình phát triển ngành Lưu trữ có ý nghĩa đặc biệt trong việc bảo đảm an ninh thông tin, an ninh dữ liệu và chủ quyền quốc gia trên không gian số. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, tài liệu lưu trữ không chỉ là di sản lịch sử, mà còn là nguồn bằng chứng pháp lý, lịch sử quan trọng để bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia. Việc quản trị chặt chẽ, hiện đại hóa và số hóa tài liệu lưu trữ giúp nâng cao khả năng bảo vệ, kiểm soát và sử dụng hiệu quả các nguồn thông tin chiến lược của quốc gia.

Tổng hợp các nội dung trên cho thấy, sự chuyển đổi mô hình phát triển của ngành Lưu trữ theo tinh thần Đại hội XIV mang ý nghĩa chiến lược toàn diện, vừa phục vụ yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước, vừa đáp ứng đòi hỏi phát triển kinh tế số, xã hội số, đồng thời góp phần bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia, dân tộc trong kỷ nguyên mới. Đây là cơ sở quan trọng để khẳng định rằng phát triển ngành Lưu trữ không chỉ là nhiệm vụ của riêng một ngành, mà là bộ phận hữu cơ trong chiến lược phát triển tổng thể của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

5. Kết luận

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, trên cơ sở tổng kết sâu sắc gần 40 năm đổi mới và nhận diện đầy đủ bối cảnh trong nước, quốc tế, đã xác lập tư duy phát triển mới cho đất nước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, trong đó khoa học công nghệ, chuyển đổi số, văn hóa và con người Việt Nam được xác định là những trụ cột trung tâm. Trong cấu trúc tư duy đó, việc định hướng chiến lược phát triển ngành Lưu trữ không chỉ xuất phát từ yêu cầu đổi mới một lĩnh vực chuyên môn, mà phản ánh yêu cầu khách quan của quá trình xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và xã hội số. Ba trụ cột chiến lược (chuyển đổi số toàn diện, phát huy giá trị tài liệu lưu trữ gắn với phát triển văn hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế) tạo thành một chỉnh thể thống nhất, thể hiện sự chuyển biến căn bản trong nhận thức về vị trí, vai trò của ngành Lưu trữ trong hệ thống chính trị và đời sống xã hội.

Thực hiện hiệu quả các định hướng chiến lược này sẽ giúp ngành Lưu trữ Việt Nam chuyển hóa từ vai trò hỗ trợ hành chính sang nguồn lực thông tin chiến lược, trực tiếp phục vụ sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, hoạch định và tổ chức thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử – văn hóa dân tộc, bảo đảm an ninh thông tin, an ninh dữ liệu và bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia, dân tộc trong kỷ nguyên số. Qua đó có thể khẳng định, phát triển ngành Lưu trữ theo tinh thần Báo cáo chính trị Đại hội XIV không chỉ mang ý nghĩa trước mắt, mà còn có ý nghĩa lâu dài, góp phần củng cố nền tảng tri thức, dữ liệu và văn hóa cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhân dân ta đã kiên định lựa chọn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026): Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Hà Nội.
3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022): Nghị quyết số 27-NQ/TW về Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2023): Nghị quyết số 57-NQ/TW về Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số.
5. Thủ tướng Chính phủ (2021): Quyết định số 942/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ số giai đoạn 2021–2025, định hướng đến năm 2030.
6. Thủ tướng Chính phủ (2020): Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
7. Thủ tướng Chính phủ (2021): Quyết định số 2194/QĐ-TTg về Chương trình công bố tài liệu lưu trữ quốc gia phục vụ xây dựng, phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ chủ quyền đất nước.
8. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2011): Luật Lưu trữ, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
9. Bộ Nội vụ (2022): Chiến lược phát triển ngành Văn thư – Lưu trữ Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Hà Nội.
10. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2024): Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
11. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2025): Xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
12. Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước (2023): Lưu trữ số và quản trị dữ liệu trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội.
13. Tạp chí Lý luận chính trị (2022–2025): Các số chuyên đề về xây dựng Nhà nước pháp quyền, chuyển đổi số và phát triển văn hóa.
14. Tạp chí Cộng sản (2023–2025): Các bài viết về tư duy phát triển mới, quản trị quốc gia và nguồn lực dữ liệu theo tinh thần Đại hội XIV.

 
Nguồn: Trang Thông tin Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước