85 năm trước, ngày 28/01/1941, Bác Hồ về nước, đặt chân trên mảnh đất Cao Bằng. Sự kiện này có ý nghĩa quan trọng, kết thúc hành trình bôn ba 30 năm đất khách tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc của Người. Từ đây mở ra chặng đường mới đối với Cách mạng Việt Nam. Người trở về Tổ quốc, lãnh đạo cách mạng trước hết là xây dựng đường lối giải phóng dân tộc.
 
Trên cơ sở tổng hợp, phân tích các nguồn tư liệu, đặc biệt giới thiệu các nguồn tài liệu lưu trữ, bài viết nhằm góp phần làm sáng tỏ về giá trị, ý nghĩa lịch sử quan trọng sự kiện Bác Hồ về nước và sự chuẩn bị điều kiện cho cách mạng giải phóng dân tộc.

1. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước

Đến đầu năm 1940, tình hình quốc tế và trong nước có những chuyển biến quan trọng, mau lẹ. Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạt quyết liệt. Tháng 6/1940, Chính phủ Pháp đầu hàng phát xít Đức. Điều này đã tác động đến bộ máy cai trị của Pháp ở các thuộc địa, đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng của các dân tộc thuộc địa, đặc biệt về thời cơ cho cách mạng của các dân tộc thuộc địa trong đó có Việt Nam.

Ở trong nước, nhân dân Việt Nam một cổ hai tròng dưới ách áp bức, bóc lột của thực dân, đế quốc và phong kiến, đã đứng lên đấu tranh quyết liệt, đặc biệt các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ và cuộc binh biến Đô Lương đã diễn ra. Các cuộc khởi nghĩa này đều chưa giành được thắng lợi, điều đó cho thấy những hạn chế của phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân: lực lượng non yếu, chưa có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và đầy đủ, chưa có sự lãnh đạo chặt chẽ, sự phối hợp thống nhất của các lực lượng trên cả nước. Đây là cơ sở thực tiễn mà được Đảng rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc tổ chức xây dựng lực lượng cũng như là căn cứ để xác định về đường lối, phương pháp tiến hành cách mạng. Mặc dù vậy, các cuộc khởi nghĩa và binh biến này có ý nghĩa lịch sử quan trọng đối với cách mạng Việt Nam, đã thể hiện tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh kiên cường và quyết tâm chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam khi bị áp bức, bóc lột nặng nề. Các cuộc khởi nghĩa và binh biến đó là “những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu tranh đấu bằng võ lực của các dân tộc ở một nước Đông Dương (1), có vai trò quan trọng trong việc mở đường cho cao trào giải phóng dân tộc, góp phần chuẩn bị trực tiếp cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành thắng lợi.

Đời sống của nhân dân Việt Nam bị áp bức, bóc lột. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III.

Trước tình hình đó, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhận định: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội thuận lợi cho cách mạng Việt Nam”, do đó, “ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”(2). Người đã thực hiện khát vọng của mình “trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”(3).

Mặc dù di chuyển trong điều kiện khó khăn, luôn bị theo dõi hết sức gắt gao, song Người đã tìm cách bí mật bắt liên lạc với các đồng chí của mình để thực hiện kế hoạch về nước. Ngày 28/1/1941, Người đã bí mật về đến Cao Bằng. Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng, mang tính bước ngoặt đối với cách mạng Việt Nam. Từ đây, cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo trực tiếp, đúng đắn của Người, đưa cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Tài liệu của mật thám Pháp ghi chú thông tin về Nguyễn Ái Quốc năm 1941. Nguồn: Lưu trữ Hải ngoại Pháp (ANOM).

2. Chuẩn bị những điều kiện cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc

Ngay sau khi về nước, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã bắt tay ngay vào việc chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Trước hết, Người đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương 8. Hội nghị diễn ra từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941, tại khu rừng Khuổi Nậm, bản Pắc Bó (Hà Quảng, Cao Bằng). Tham gia hội nghị là những cán bộ chủ chốt cùa Đảng như Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Phùng Chí Kiên, Hoàng Quốc Việt cùng một số đại biểu của Xứ ủy Bắc Kỳ và Trung Kỳ và đại biểu tổ chức Đảng hoạt động ở hải ngoại.

Sau khi phân tích tình hình thế giới, trong nước, Hội nghị đã nhận định: “Cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng giải quyết hai vấn đề phản đế và điền địa nữa mà là cuộc cách mạng chỉ giải quyết một vấn đề cần kíp là “dân tộc giải phóng”. Vậy thì cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng”(4).

Để thực hiện đường lối cách mạng, Hội nghị đã đề ra nhiều biện pháp về tư tưởng và tổ chức, trong đó nổi bật là quyết định xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất. Dựa trên tình hình mới của thế giới và Đông Dương cùng lý luận về quyền dân tộc tự quyết của Lênin, Hội nghị chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước, trao quyền tự chủ cho nhân dân mỗi nước trong sự nghiệp giải phóng và lựa chọn thể chế chính trị. Riêng ở Việt Nam, hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh, xác định thể chế Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và chọn cờ đỏ sao vàng làm quốc kỳ.

Về phương pháp vận động quần chúng, Hội nghị chủ trương “hạ thấp điều lệ xuống cho dễ thu phục hội viên và cho các đoàn thể phát triển hơn. Trong khi đi tổ chức một đoàn thể cứu quốc, điều cốt yếu là không phải những hội viên phải hiểu chủ nghĩa cộng sản, mà điều cốt yếu hơn hết là họ có tinh thần cứu quốc và muốn tranh đấu cứu quốc” (5) đồng thời Hội nghị xác định: Cuộc cách mạng ở Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang (6). Và để đưa cuộc khởi nghĩa đến thắng lợi, Hội nghị nhấn mạnh yêu cầu phát triển lực lượng cách mạng và xây dựng hình thức tổ chức phù hợp, đồng thời từng bước xây dựng căn cứ địa cách mạng; khi điều kiện chín muồi, có thể tiến từ khởi nghĩa từng phần lên tổng khởi nghĩa, giành chính quyền trong cả nước: “với lực lượng sẵn có ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương, cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn” (7). Ngoài những nội dung cơ bản đó, Hội nghị còn thực hiện các nội dung về công tác cán bộ, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng.

Hội nghị Trung ương 8 là sự tiếp nối các Hội nghị Trung ương 6, 7 trước đó, song đã Hội nghị lần này đã đề ra và hoàn chỉnh đường lối chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc, chủ trương đưa nhiệm vụ giải phóng dân tộc đặt lên hàng đầu, phù hợp với yêu cầu cấp bách của tình hình thế giới và trong nước đặt ra lúc bấy giờ.

Kính cáo đồng bào của Nguyễn Ái Quốc, ngày 6/6/1941.Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông tài liệu sưu tầm.

Thực hiện Nghị quyết của Hội nghị, theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc, ngày 19/5/1941, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh, gọi tắt là Việt Minh, thay cho Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương. Mục đích của việc thành lập Việt Minh được nêu rõ là “làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập, làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do (8). Mặt trận chủ trương nhằm “Liên hiệp hết thảy các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể cách mạng, các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại, chiến đấu đánh đổ chủ nghĩa đế quốc phát xít Nhật, giành quyền độc lập cho nước Việt Nam… lập chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, do Quốc dân Đại hội cử lên, lấy cờ đỏ, sao vàng năm cánh làm quốc cờ” (9).

Ngay sau khi Mặt trận Việt Minh ra đời, ngày 6/6/1941, Người viết bản “Kính cáo đồng bào”, khẳng định: Nay cơ hội giải phóng đến rồi, đế quốc Pháp bên Âu đã không thể tự cứu, càng không thể cứu bọn thống trị Pháp ở ta. Người kêu gọi: Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứu giống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng. Hỡi đồng bào yêu quý! Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: Người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng. Riêng phần tôi, xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành tự do độc lập, dầu phải hy sinh tính mệnh cũng không nề (10).

Từ khi thành lập, Mặt trận Việt Minh đã thu hút được đông đảo lực lượng yêu nước tham gia, tạo cơ sở chính trị, tổ chức vững chắc cho cho cách mạng. Các cơ sở Đảng được mở rộng, các tổ chức cứu quốc của quần chúng phát triển ở cả nông thôn và thành thị, việc xây dựng các căn cứ địa và lực lượng vũ trang quần chúng vì vậy được đẩy mạnh.

Khẩu hiệu của Việt Minh kêu gọi đồng bào gia nhập Việt Minh và đoàn kết đánh đuổi giặc Pháp. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông Tài liệu sưu tầm.

Cùng với việc xây dựng, mở rộng lực lượng chính trị, Đảng và Nguyễn Ái Quốc đã chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang. Ban đầu Người viết những bài ca ngợi những đội tự vệ, đội du kích, sau đó là nững bài viết về các chiến thuật du kích. Những bài viết này nhằm tuyên truyền, trang bị về nội dung chuẩn bị cho xây dựng lực lượng vũ trang. Tại Cao Bằng và Khu Căn cứ địa cách mạng, nhiều đội du kích đã được thành lập.

Tháng 12/1944, Người đã ra Chỉ thị về thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân: Vì muốn hành động có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng, cho nên, theo chỉ thị mới của Đoàn thể, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao – Bắc – Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực…. Về chiến thuật: vận dụng lối đánh du kích, bí mật, nhanh chóng, tích cực, nay Đông mai Tây, lai vô ảnh, khứ vô tung. Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác. (11)

Đường lối chiến lược đấu tranh giải phóng dân tộc cùng với lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang ngày càng trưởng thành là những điều kiện cần thiết, quan trọng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh từ khi về nước đã lãnh đạo chuẩn bị gấp rút các điều kiện cần thiết để cách mạng giành được thắng lợi, và được minh chứng đầu tiên trong tổng khởi nghĩa giành chính quyền Tháng Tám năm 1945.

Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, Sđd, tr. 109.
2. Viện Sử học, Lịch sử Việt Nam, tập 9, tr 627
3. Hồ Chí Minh toàn tập, 2011, tập 1, tr 209
4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, Sđd, tr. 119.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, Sđd, tr. 124-125.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, Sđd, tr. 129
7. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, Sđd, tr. 131-132
8. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, Sđd, tr. 470
9. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, Sđd, tr. 149-150
10. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, Phông tài liệu sưu tầm, tờ 01
11. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, tr 539

 
ThS. Lê Thị Lý (Trung tâm Lưu trữ quốc gia III)

Nguồn: Trang thông tin Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước