Dưới triều Nguyễn, việc ban cấp lương bổng cho các quan viên được triều đình hết sức chú trọng, với mục đích xây dựng đội ngũ quan viên giữ được đức tính thanh liêm, nên các vua nhà Nguyễn đã thực hiện chính sách “dưỡng liêm”. Tiền dưỡng liêm là khoản tiền được cấp thêm ngoài lương để nuôi lòng liêm khiết. Tùy theo từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể mà mỗi triều vua có mức quy định tiền dưỡng liêm khác nhau.

Năm 1808, các quan ở Bắc Thành gồm Nguyễn Văn Thành, Trương Tấn Bửu, Phạm Như Đằng, Đặng Trần Thường dâng sớ trình bày năm điều, trong đó có việc tăng lương cho quan lại để khuyến khích nhưng không được vua Gia Long chấp thuận với lý do: Một khoản tăng lương, có chỗ bất tiện, vì lộc là máu của dân, triều đình dùng để đãi kẻ có tài năng, há nên khinh thường lạm dụng. Trẫm thường xem các đời toàn thịnh trước kia đều quy định lộc có phép, đến sau suy kém mới bóc lột dân để cung cấp cho quan, bọn nhũng lạm rất nhiều, cuối cùng sinh ra biến loạn, lẽ nào lại lấy đó làm khuôn phép mà không phòng tệ lớn dần.

Sau đó, nhà vua nhận thấy tầm quan trọng của việc dưỡng liêm với suy nghĩ triều đình có gia ơn cho người làm quan thì họ mới gia ơn cho dân nên năm Gia Long thứ 14 (1815), vua bàn định: Người thực thụ chức Tri phủ cho thêm khoản dưỡng liêm tiền 25 quan, gạo 25 phương. Người thực thụ Tri huyện cho thêm khoản dưỡng liêm tiền 20 quan, gạo 20 phương, đều cho chia làm 4 kỳ mà lĩnh.

Các quan nhà Nguyễn thiết triều (Ảnh sưu tầm)

Đến năm 1818, vua Gia Long bắt đầu định lệ dưỡng liêm. Ban đầu, lệ này chỉ áp dụng cho Tri phủ, Tri huyện và tùy vào lộc chính mà cấp. Vua ban chiếu: Cho bổng lộc hậu là để khuyên kẻ sĩ. Lúc mới yên định, lệ lương bổng và lệ áo mùa xuân của quan viên thì tùy nghi chuẩn cấp, chưa kịp châm chước bàn định. Nay thiên hạ đã yên, phải nên chế định bổng lộc cho có phép tắc. Đến như phủ, huyện ở gần nhân dân, chức nhỏ nhưng việc nhiều, ngoài bổng chính ra, cấp thêm tiền gạo dưỡng liêm, để tỏ đặc cách. Chánh nhất phẩm, hằng năm tiền 600 quan, gạo 600 phương, đồ mặc mùa xuân 70 quan; tòng nhất phẩm, tiền gạo đều 360, đồ mặc mùa xuân 60 quan; chánh nhị phẩm, tiền gạo đều 300, đồ mặc mùa xuân 50 quan; tòng nhị phẩm, tiền gạo đều 150, đồ mặc mùa xuân 30 quan; chánh tam phẩm, tiền gạo đều 120, đồ mặc mùa xuân 20 quan; tòng tam phẩm, tiền gạo đều 90, đồ mặc mùa xuân 16 quan; chánh tứ phẩm, tiền gạo đều 60, đồ mặc mùa xuân 10 quan; tòng tứ phẩm, tiền gạo đều 50, đồ mặc mùa xuân 10 quan; chánh ngũ phẩm, tiền gạo đều 35, đồ mặc mùa xuân 9 quan; tòng ngũ phẩm, tiền gạo đều 30, đồ mặc mùa xuân 8 quan; chánh lục phẩm, tiền gạo đều 25, đồ mặc mùa xuân 7 quan; tòng lục phẩm, tiền gạo đều 22, đồ mặc mùa xuân 6 quan; chánh tòng thất phẩm, tiền gạo đều 20, đồ mặc mùa xuân 5 quan; chánh tòng bát phẩm, tiền gạo đều 18, đồ mặc mùa xuân 4 quan; chánh tòng cửu phẩm, tiền gạo đều 16, đồ mặc mùa xuân 4 quan.

Quan được bổ từ năm Gia Long thứ 16 (1817) về trước, ai dự lệ có bổng lộc và đồ mặc mùa xuân, theo lệ cũ được nhiều mà theo lệ mới được ít, thì chi theo lệ cũ; theo lệ mới được nhiều mà theo lệ cũ được ít, thì chi theo lệ mới; từ tháng giêng năm nay trở về sau đều theo lệ mới. Ai có lỗi bị phạt thì chỉ phạt vào lương chính, tiền đồ mặc mùa xuân thì tha. Lệ dưỡng liêm của các phủ huyện thì chiểu theo bổng chính.

Noi theo chính sách của vua cha, năm 1830, vua Minh Mạng rộng rãi cấp tiền dưỡng liêm cho cả quan viên nhỏ hơn. Vua chuẩn định: Từ nay, phàm những người mới được thăng chức Thự Tri phủ, Thự Tri huyện thì số tiền gạo dưỡng liêm chi cấp theo một lệ với hạng thực thụ. Ghi làm lệnh.

Vua Minh Mạng định lại lệ cấp tiền dưỡng liêm cho phủ huyện

Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV

Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), vua định lại lệ cấp tiền dưỡng liêm cho phủ, huyện và quy chế chặt chẽ hơn cho quan viên: Chỉ những ngày làm việc mới cấp cho, còn ngày chưa nhận chức và ngày đã thôi việc thì không cấp. Những người ở phủ, huyện mới được thăng bổ, đến nhận việc vào tháng mạnh (tháng 1, 4, 7, 10) thì cấp tiền dưỡng liêm cả quý ấy; vào tháng trọng (tháng 2, 5, 8, 11) thì cấp một nửa; vào tháng quý (tháng 3, 6, 9, 12) thì không cấp. Người nào thăng chức hay đến Kinh chờ bổ chức, nếu vào tháng mạnh đã lĩnh tiền dưỡng liêm rồi thì phải trả lại; vào tháng trọng thì trả một nửa; vào tháng quý thì không phải trả lại. Người nào vào Kinh ra mắt vua, rồi lại về nhận chức cũng tính như thế. Vua lại lệnh cho các thành, doanh, trấn, sau này có cấp bằng cho các viên quan ấy cũng nên phân rõ ngay quan mới hay quan lĩnh quyền tiếp nhận làm việc. Và viên quan ấy khi ở lỵ sở đã lĩnh tiền lương, tiền áo xuân phục, tiền dưỡng liêm vào mồng 1 tháng nào đến cuối tháng nào, số tiền gạo ấy là bao nhiêu, để sau này xét. Việc chi tiền dưỡng liêm được vua suy tính rất thấu đáo.

Tùy theo tình hình thực tế ở các địa phương và mức lương mà đối tượng được hưởng tiền dưỡng liêm được mở rộng qua các năm. Năm Ất Mùi, Minh Mạng thứ 16 (1835), vua tiếp tục chuẩn định lệ dưỡng liêm cho các Tri châu mới đặt cũng như đối với các Tri huyện. Vua chuẩn y lời tâu: Cao Bằng, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn mới đặt chức Tri châu, chức phẩm cũng như Tri huyện nên quy định tiền gạo dưỡng liêm giống như nhau.

Năm 1836, vua cho rằng ở thành đương cần dùng quan văn nên y theo lời xin gia ơn cấp cho các viên quan tạm quyền ấy mỗi tháng 10 quan tiền làm tiền dưỡng liêm. Trong năm này, Tổng đốc Hải Yên là Nguyễn Công Trứ xin cấp gạo dưỡng liêm cho vị trí từ Đốc học đến Huấn đạo để họ chuyên tâm dạy dỗ nhưng không được chuẩn y vì vua Minh Mạng muốn dành khoản dưỡng liêm cho những chức vụ gần gũi với dân. Qua đó cho thấy, mặc dù quan tâm đến chính sách dưỡng liêm nhưng vua đã không hề lạm dụng.

Năm Minh Mạng thứ 19 (1838), vua định lại lệ dưỡng liêm cho các phủ huyện, châu ở các địa phương. Tri phủ và Đồng Tri phủ, Tri châu, Tri huyện đều chiểu theo phẩm bậc chi lương, sau lệ cấp thêm tiền gạo dưỡng liêm thì phủ, huyện, châu nào là nơi cần thiết, cứ theo như cũ cấp cho đủ số. Nơi nào cần thiết thì chiểu cấp 8 phần 10, như Tri phủ tiền dưỡng liêm cả năm 30 quan, gạo 30 phương, nay rút đi chỉ cấp tiền 24 quan, gạo 24 phương. Đồng Tri phủ trước tiền gạo dưỡng liêm tiền 25 quan, gạo 15 phương, nay rút đi chỉ cấp tiền 20 quan, gạo 20 phương. Tri châu, Tri huyện trước tiền gạo dưỡng liêm tiền 22 quan, gạo 22 phương, nay rút đi chỉ cấp tiền 17 quan 6 tiền, gạo 17 phương 18 đấu. Ngoài ra việc cần thiết vừa và ít cần thiết cũng theo đấy mà suy ra. Cần thiết vừa thì rút đi chỉ cấp cho 6 phần 10, ít cần thiết thì rút đi chỉ cấp cho 5 phần 10, như thế thì mới có phân biệt.

Năm 1839, đổi định lại lệ tiền dưỡng liêm cho phủ, huyện, châu các hạt như sau: Các quan phủ, huyện, châu, các hạt như Tri phủ và Đồng Tri phủ, Tri châu, Tri huyện bất cứ thự hàm hay thực hàm đều chiếu theo thực tế chỗ rất cần thiết, cần thiết, cần thiết vừa và ít cần thiết thì vẫn tham khảo châm chước lệ trước để định lệ cấp tiền gạo dưỡng liêm. Hoặc viên nào phải giáng chức lưu dụng thì lương chiểu cấp giáng mà trừ đi, còn tiền gạo dưỡng liêm vẫn theo như cũ mà cấp. Viên nào chịu phạt về việc hệ trọng đã có Chỉ vua phạt cả hệ lương và tiền dưỡng liêm thì mới khấu trừ cả. Còn viên nào chỉ phải phạt bổng thì chỉ khấu trừ vào lương còn lệ dưỡng liêm vẫn cho theo kỳ mà lĩnh. Lại tiền dưỡng liêm Tri phủ các phủ về hạng rất cần thiết, cả năm 60 quan hạng cần thiết 50 quan, cần thiết vừa 40 quan, ít cần thiết 30 quan. Đồng tri phủ các phủ hạng rất cần thiết tiền 50 quan, cần thiết 40 quan, cần thiết vừa 30 quan, ít cần thiết 25 quan. Tri châu, tri huyện các châu huyện hạng rất cần thiết cả năm 40 quan, cần thiết 30 quan, cần thiết vừa 25 quan, ít cần thiết 20 quan.

Dưới thời vua Tự Đức, vua đặc biệt quan tâm đến đối tượng được hưởng chế độ dưỡng liêm. Vua còn cấp tiền dưỡng liêm bằng bạc cho phái viên (Kinh phái) thu thuế quan ở bến tuần các tỉnh như bến tuần Mễ Sở tỉnh Hưng Yên, bến tuần Trình Xá tỉnh Sơn Tây; bến tuần Quán Sỳ, Bảo Thắng tỉnh Hưng Hoá. Những phái viên sung vào ngạch ngồi thu như Viên ngoại 3 viên đều cấp cho mỗi viên 10 lạng bạc, Chủ sự 7 viên mỗi viên đều 8 lạng, Biên tu 2 viên, Tư vụ 10 viên mỗi viên đều 6 lạng.

Năm 1855, vua Tự Đức cấp tiền dưỡng liêm cho Thượng tư các địa phương. Tổng đốc 80 quan, Tuần phủ 75 quan, Bố chính 70 quan, Án sát 65 quan. Vua xuống dụ, đại lược rằng: Quan lại  trị dân, lấy liêm, thiện làm đầu, bậc quân tử, lấy việc không tham làm quý. Nếu bảo là cơm, áo đủ thì biết vinh, nhục, đó là thường tình của kẻ tiểu nhân, chứ không phải là bàn đến tính hạnh của bậc sĩ phu và quân tử. Duy người làm tôi thờ vua, cố nhiên vẫn là trước nghĩ đến làm việc, rồi sau mới nghĩ đến hưởng lộc nhưng triều đình nuôi sĩ phu, tất phải đặt ra mức lương cho hậu để bắt phải giữ lòng liêm. Cho nên Kinh Thư (thiên Hồng Phạm) có câu: Phàm người làm quan, phải cho lộc nhiều, rồi sau mới có thể bắt làm điều thiện được. Vậy thì tại Kinh, từ chánh nhất phẩm trở xuống, đều tăng ân bổng; cùng các phủ, huyện ở ngoài, lệ được tiền dưỡng liêm; đốc, phủ, bố, án hằng năm cũng cấp tiền dưỡng liêm, đều có thứ bậc khác nhau, để tỏ sự khuyên người giữ lòng thanh liêm.

Năm Tự Đức thứ 9 (1856), vua chuẩn cho các quan viên ở ngoài các tỉnh người nào bị cách giáng chức hay lĩnh, nhiếp chức, được vào lệ chi tiền dưỡng liêm. Vua ban dụ rằng: Lấy bổng lộc hậu ở nuôi sĩ phu, là triều đình cốt để sự liêm khiết. Nên trước đây đã xuống Dụ tặng thêm ân bổng cho các quan viên ở Kinh và cấp tiền dưỡng liêm cho các đốc, phủ, bố, án ở ngoài (chiếu theo lệ phủ, huyện) vì là muốn cho các quan trong ngoài đều có nhiều lương bổng để khuyến khích liêm khiết. Ta nhân nghĩ: Quan viên ở Kinh, hoặc có giáng, phạt, nhưng ân bổng đều được chiếu lệ cấp cho, mà các quan viên ở ngoài các tỉnh, hoặc có phải cách giáng, được lưu lại để dùng và những người quyền lĩnh, quyền nhiếp tuy so với người hàm thực thụ có khác, nhưng làm công việc thì cũng giống nhau. Về khoản tiền dưỡng liêm, cũng cho đều cấp một loạt, để rộng mức ban ơn.

Vua Tự Đức ra lệnh giảm tiền lương bổng nhưng không được giảm tiền dưỡng liêm

Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV

Năm Đinh Tỵ, Tự Đức thứ 10 (1857), vua cho là các quan ở Kinh ngày đêm làm việc siêng chăm, mà ân bổng tặng thêm so với tiền dưỡng liêm của các quan bên ngoài lại có phần ít hơn (quan ở Kinh tòng nhị phẩm 70 quan, mà quan bên ngoài như Tuần phủ 75 quan; quan ở Kinh chánh tam phẩm 60 quan, tòng tam phẩm 50 quan, mà quan bên ngoài như Bố chính 70 quan, Án sát 65 quan…). Vua bèn định rõ lệ tiền dưỡng liêm cho các quan trong kinh và bên ngoài được công bằng hơn.

Một điều đáng chú ý là dưới thời vua Tự Đức, tiền lương bổng có thể giảm nhưng tiền dưỡng liêm thì không được giảm. Năm 1861, đất nước gặp nhiều khó khăn, việc quân nhu rất khẩn. Vua chuẩn định lương hằng năm của hoàng thân, nội đình, cùng quan văn võ trong ngoài từ tòng tam phẩm trở lên, xem xét giảm đi có thứ bậc khác nhau nhưng tiền dưỡng liêm và tiền áo mùa xuân thì không giảm.

Những quy định về tiền dưỡng liêm được thực thi dưới thời vua Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức có ý nghĩa rất lớn đối với những người làm quan, việc này không chỉ đáp ứng nhu cầu vật chất mà còn giúp các viên quan giữ được lòng trong sạch, bảo vệ sự liêm khiết, không nảy sinh lòng tham và nhũng nhiễu nhân dân./.

Tài liệu tham khảo:

1. Hồ sơ H22/76, Mộc bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV;

2. Hồ sơ H24/25, Mộc bản triều Nguyễn, Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV;

3. Nội các triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, Nxb Giáo dục, 2004;

4. Quốc sử quán triều Nguyễn, Minh Mạng chính yếu, Nxb Thuận Hóa, 2010;

5. Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Nxb Thuận Hóa, 2005;

Nguyên Phan